trang chủ

Apr 18, 2013

THỜI GIAN LUYỆN CÔNG


Thiếu Lâm có ba khoảng thời gian luyện công: luyện công buổi sáng, luyện công buổi trưa (ngọ) và luyện ban đêm. Quyền phổ viết: "luyện buổi sáng, tiết khí dơ, nạp khí mới. Luyện giờ ngọ, thuận nghịch chứa đầy tinh khí, luyện ban đêm vận chuyển khí mà phát sinh tinh nhuệ, búng ngón tay xuyên gỗ như xuyên tấm chiếu."

Luyện buổi sáng:
khí phế thải của quá trình thay cũ đổi mới trong cơ thể trải qua mộ ngày hoạt động, sau một đêm nằm ngủ tất nhiên phải tụ tập trong cơ thể. Cho nên buổi sáng cần luyện tập để thay đổi khí, nạp khí trong lành vào và nhả khí dơ ra ngoài, để điều chỉnh chức năng nội tạng, làm phấn chấn tinh thần, thư giãn gân cốt.

Luyện giờ ngọ:
Cơ thể sau khi trải qua nữa ngày hoạt động và tư duy, rất dể dẫn đến khí huyết nghịch hành, tinh thần tán loạn, mất mức, cho nên luyện vào giờ ngọ để điều khiển khí trở về huyệt, đưa vào trạng thái yên tịnh, thuận chiều. Nhưng luyện vào giờ ngọ không nên quá lâu, thường 15 phút là đủ.

Luyện giờ sao lên:
tức là chờ cho các ngôi sao trên trời hiện ra đầy đủ, là lúc đêm khuya yên tịnh mới bắt đầu luyện công. Người xưa nói: "sáng nạp khí mới, trưa tích chứa khí, đêm thải khí phế thải, khiến cho khí quy về mà thành tinh nhuệ." Tức sáng sớm luyện hít thở (thuật thổ nạp), trưa luyện điều chỉnh khí nghịch trở về thuận, tích chứa sự tinh nhuệ của nữa ngày, đợi sao lên thì luyện công trong cảnh vạn vật trầm lắng, tư tưởng dễ thuần khiết, tâm khí dễ tập trung, mới điều khiển khí mà phát ra được, rất thích hợp để luyện các môn ngạnh công Thiếu Lâm.

Nếu như nắm vững tời gian luyện công một cách hợp lý, có thể tăng hiệu quả lên hơn phân nữa, như trong "Âm Phù Kinh" đã chỉ rõ: "trộm cho được cơ, trời và người kết hợp mà phát động", ý muốn nỏi ằng, trời phát động sát cơ thì tinh thú thay đổi vị trí, đất phát động sát cơ  thì rồng rắn ra khỏi mặt đất, người phát động sát cơ thì trời đất đảo lộn, trời, người hợp lại phát động thì vạn vật định được nền tảng. Từ sát cơ ở đây phải hiểu là "vận động biến hóa". Người và vạn vật của thế giới tự nhiên là một hợp thể không thể tách rời được. Lúc vạn vật của thế giới tự nhiên vận động biến hóa, tức là cái được gọi là trời phát động sát cơ, đất phát động sát cơ vậy. Tư tưởng và sinh lý cơ thể của con người biến đổi theo chúng, chính là cái gọi là "quan thiên chi đạo" (quan sát đạo của trời). Người tập võ, luyện công, tu đạo nếu có thể nắm bắt được thời cơ phát sinh biến hóa của thế giới tự nhiên và sinh lý của cơ thể con người, rồi từ từ tu luyện, có thể gia tăng hiệu quả luyện công. y học của đạo gia và lý luận của đông y điều nhận định rằng, sinh lý của con người biến đổi theo thế giới tự nhiên. Chủ yếu là phản ứng về phương diện quy luật vận hành của khí huyết. Phương pháp nạp tý cho rằng, một ngày 24 giờ, khí huyết chia ra lưu chú mỗi giờ ở 12 kinh lạc như bản sau:

Kinh mạch
Thi thần
Gi
Kinh mạch
Thi thần
Gi
Đảm
23 – 1
 Tâm
Ngọ
11 – 13
Can
Su
1 – 3
Tiểu trường
Mùi
13 – 15
Phế
Dần
3 – 5
Bàng quang
Thân
15 – 17
Đại trường
Mão
5 – 7
Thận
Dậu
17 – 19
Vị
Thìn
7 – 9
Tâm bào
Tuất
19 – 21
Tỳ
Tỵ
9 – 11
Tam tiêu
Hi
21 - 23


Chú ý: do vị trí địa lý khác nhau, nên giờ của mỗi nơi khác nhau, do đó thời gian khí huyết vận hành trong 12 kinh lạc không thể lấy theo một múi giờ nào đó làm tiêu chuẩn được, mà phải lấy thời thần làm chuẩn, tức là lấy theo tiết khí làm chuẩn.

Trong 12 thời thần, thực ra luyện công vào giờ nào là tốt nhất? Vấn đề này có nhiều ý kiến khác nhau. Có người chủ trương luyện trước giờ ngọ, sau giờ tỵ. Có người chủ trương luyện sau giờ tý trước giờ dần. Có người chủ trương luyện trong 6 giờ âm, có người phản đối, nên luyện 6 giờ dương. Có người chủ trương luyện trong 4 giờ tý, ngọ, mão, dậu. Người viết cho rằng luyện vào 4 giờ tý, ngọ, mão, dậu là tốt nhất. Lý do như sau:

Giờ tý là lực nguyên âm, nguyên dương xảo hợp ngưng kết. Trong đó ẩn chứa khí thận thủy, nên gọi là khí tiên thiên, là căn bản của sinh mệnh thân thể con người. Trong thuyết âm dương khí công có nói "giờ tý nhất dương sinh", là chỉ cái khí sinh phát này. Cho nên luyện công vào giờ tý, không những nắm bắt được căn gốc của sinh mệnh mà còn là thời cơ tốt nhất để chân khí của con người "sinh hóa vô cùng". Ngoài ra giờ tý còn là giờ đầu của 6 giờ dương, vốn là âm cực sinh dương, là lúc khí dướng bắt đầu thịnh, giờ này chân khí đang vận chuyển ở kinh đảm, đảm là nơi tướng hỏa ở, cũng là nhất dương, tức là khí thiếu dương phát sinh ở đầu mùa xuân. "nội kinh" viết: "Tất cả 11 tạng phủ đều quyết định ở đảm". Do đó, luyện công ở giờ tý hiệu quả tăng lên phân nữa.

Giờ ngọ thuộc tâm hỏa, khí dương cực thịnh, giờ này chân khí đang vận hành cở kinh tâm. Tâm là thái dương của khí dương, là nơi khí dương tụ tập, dương khí tất nhiên cực thịnh. Nhưng giờ này lấy nhất âm sinh ra làm chủ, dương khí ở thế giáng hạ, nên luyện công vào giờ này tất sẽ giúp cho khí cực âm sinh trưởng, và thu liễm khí cực dương lại, khiến cho khí dương theo khí nhất âm mà tiềm giáng, con người nhờ thế mà không quá cương táo mà vỡ gẫy.

Giờ mão mặt trời mọc, là lúc tứ dương sinh, khí dương vượng thịnh mà thành. Giờ mão chân khí vận hành trong kinh đại trường, đại trường và phế là hổ tương biểu lý, kinh phế chủ về khí, vì thế luyện công vào giờ này là phù hợp cho mầm khí dương trưởng thành mạnh mẽ. Người ta thường nói: "giờ mão khí vượng" chính là đạo lý này.

Giờ dậu mặt trời lắn, là giờ của tứ âm, âm khí trở nên nặng bởi vì âm dương cùng gốc hỗ trợ cho nhau, nên giờ này luyện công hỗ trợ khí nguyên âm cực thịnh, có lợi cho sự tăng trưởng khí âm.

Bây giờ xin trình bày quy cũ của tiền nhân đã tổng kết về thời gian luyện công như sau:

1. Mỗi ngày vào giờ tý lên tọa công, mỗi lần ngồi bao lâu cũng được, lấy thể lực chịu đựng vừa đủ làm giới hạn.
2. mỗi ngày chọn giờ hai khí âm dương giao thoa mà luyện công. Như giờ giao nhau giữa ngày và đêm, giờ giao nhua giữa nữa đêm đầu và nữa đêm sau, giờ giao nhau giữa trước ngọ và sau ngọ, tức là giờ tý, ngọ, mão, dậu.
3. Mỗi ngày chọn giờ mà bạn hưng phấn nhất để luyện công, mỗi lần luyện cho đến khi cảm thấy mệt mỏi thì nghỉ.
4. Mỗi ngày chọn lúc bạn mệt mỏi nhất mà tọa công dưỡng khí, thanh lọc khí.
5. Mỗi tháng chọn 3 ngày: mùng 3, 4, 5 luyện căng nhất.
6. Mỗi năm, vào 3 ngày trước các tiết xuân phân, thu phân, hạ chí, đông chí nên bế môn y theo giờ mà luyện công.
7. Mỗi năm vào các ngày tết như Nguyên đán, Đoan ngọ, Trung thu, nên kiên trì luyện công.
8. Mỗi năm vào ngày 7 tháng 7 âm lịch, 5 tháng 5 âm lịch nên luyện công suốt ngày để thanh lọc khí.
9. Chọn giờ có hiện tượng đặc thù trong cuộc đời bạn mà luyện công.
10. Mỗi lần đến ngày sinh nhật của bạn hay sinh nhật của người thân thì bạn kiên trì luyện công.

Trích: Thiếu Lâm kim cang ngạnh khí công

Apr 17, 2013

HÌNH Ý QUYỀN QUYẾT VI - LƯU ĐIỆN SÂM (ĐAN ĐIỀN LUẬN)



chương 1: Đan điền luận


第一章   丹田论

丹田者,阳元之本,气力之府也。欲精技艺必健丹田,欲健丹田尤必先练技艺,二者固互为因果者也。吾道皆知丹田为要矣,顾先师有口授而少书传,后之学者究难 明其所以然,谨将受之吾师与廿年所体验者略述之。所谓欲精技艺必先健丹田者,盖以丹田亏则气不充,气不充则力不足,彼五拳十二形空有架势,以之为顾法,则 如守者之城池空虚;以之为打法则如战者之兵马嬴弱,故必于临敌挫阵之际,常若有一团气力坚凝于腹脐之间,倏然自腰而背而项直贯于顶,当时眼作先锋以观之, 心作元帅以谋之,钻翻横竖起落随时而应用,龙虎猴马鹰熊变化而咸宜,毫忽之间,胜负立判,此丹田充盈而技艺所以精也。何谓欲健丹田必先练技艺。释之如下: 或曰丹田受之先天,人所固有,自足于内,无待于外,但能善自保养,足矣,何待于练?窃谓不然。凡人不溺于色欲,不丧肾精,保养有方,则元气自充,如是者尤 可延年益寿,然究不能将丹田之气力发之为绝技也。欲发之为绝技必自练始,练之之法一在于聚,一在于运。聚者即八要中所谓舌顶、齿扣、谷道提、三心并诸法 也,又必先去其隔膜,如心肝脾肺肾之五关层层透过,一无阻拦,八要之中所谓五行要顺也。行之既久而后气可全会于丹田。然聚之而不善运,亦未能发为绝 技,必将会于丹田之气力由背骨往上迥住于胸间,充于腹,盈于脏,凝于两肋,冲于脑顶,更兼素日所练之身体异常廉干,手足异常活动,应敌之来而架势即变,应 架势之变而气力随之即到,倏忽之间千变万化,有非语所形容者,此所谓善运用也。总其所以聚之运之者要在平日之勤练技艺,非如求仙者之静坐练丹也。古之精于 艺者以一人而敌无数之人,其丹田之气力不知如何充足。究其所以然之故,无一不自勤习技艺以练丹田始。后之学者即丹田说而善领会之,则可以入武道矣。

Lược dịch:

Đan điền, là gốc của dương nguyên, là phủ của khí lực, muốn tinh thông kỹ nghệ thì phải kiện đan điền, mà muốn kiện đan điền thì trước tiên phải luyện tập kỹ nghệ, hai thứ đó hổ tương cho nhau mà thành luật nhân quả.  Chúng ta điều biết sự quan trọng của đan điền, nhưng các tiên sư chỉ có khẩu truyền mà ít khi viết thành sách truyền lại, những học giả về sau rất khó nghiên cứu cho tường tận, ta cẩn thận đem những gì sư phụ ta và hai mươi năm thể nghiệm ra kể lại sơ lược.
Cái gọi là muốn tinh kỹ nghệ trước tiên phải kiện đan điền, nếu đan điền khuy (mệt) thì khí không sung (đầy đủ), khí không sung thì lực không đủ, làm cho ngũ quyền thập nhị hình không còn ra dáng điệu nữa. Vì vậy mà cố pháp (phòng thủ), thì như thủ thành trống, đả pháp thì như chiến đấu mà binh doanh điều suy nhược, cho nên khi lâm trận thì bị địch áp chế. Thường nếu có một cổ khí lực ngưng tụ kiên cố ở khoang bụng rốn, đột nhiên từ eo tới lưng tới gáy thẳng xuyên tới đỉnh, lúc đó lấy mắt làm tiên phong quan sát, tâm làm nguyên soái bày mưu, xoay chuyển ngang dọc, lên xuống tùy thời mà ứng dụng. Long hổ hầu mã ưng hùng biến hóa mà đều thích hợp, trong phút chóc thắng bại được định. Cho nên đan điền tràn đầy thì kỹ nghệ mới tinh thông.
Như thế nào gọi là muốn kiện đan điền thì trước tiên phải luyện kỹ nghệ. Giải thích như sau: có người nói rằng đan điền thụ tiên thiên, con người vốn có sẵn, tự đầy đủ ở bên trong, không cần nhờ đến bên ngoài, nhưng nếu đã có thể tự bảo dưỡng tốt và đầy đủ vậy thì cần chi phải luyện? Nghĩ rằng điều đó là không thể, con người không chìm đấm vào trong sắc dục, không mất thận tinh, có phương pháp bảo dưỡng thì nguyên khí tự sung, như thế thì tự có thể kéo dài tuổi thọ, nhưng cho dù như vậy cũng không thể đam khí lực của đan điền phát ra thành tuyệt kỹ được. Muốn phát ra thành tuyệt kỹ phải tự luyện mới được, phương pháp luyện là một chổ tụ, một chổ vận. Tụ tức là bát yếu trong trong các phương pháp như, thiệt đỉnh (lưởi đỉnh lên), cắn răng, đề hậu môn (cốc đạo), tam tâm, trước tiên lại phải làm cho ngũ quan tâm can tỳ phế thận tầng tầng xuyên thấu qua sự ngăn cách, một cái cũng không bị ngăn cản, trong bát yếu gọi là “ngũ hành phải thuận” . Thực hành theo như vậy lâu ngày thì sau này khí mới có thể đủ ở ở đan điền.
Có thể tụ mà không giỏi vận thì cũng không thể xuất ra được tuyệt kỹ, phải mang được khí ở đan điền từ xương lưng hướng lên trên thúc vào phần khoảng ngực, sung ở bụng, doanh (đầy đủ) ở tạng, ngưng ở hai sường, xung ở đỉnh não, lại thêm bình thường luyện tập cơ thể nghiêm khắc, tay chân hoạt động dị thường, ứng với địch đến mà tư thế biến hóa, ứng với sự biến hóa của tư thế mà khí lực tùy ý theo mà đến ngay, trong phút chốc thiên biến vạn hóa, ngôn ngữ không thể hình dung nổi, cho nên đó gọi là thiện vận dụng vậy. Vì vậy sự vận dụng tụ là phải thường ngày cần luyện kỹ nghệ, không như cầu tiên lấy tĩnh tọa để luyện đan. Người xưa tinh thông nghệ mà lấy một người địch vô số người, không biết là khí lực của đan điền sung túc đến chừng nào. Nghiêm cứu nguyên cố của nó, không thể không tự luyện tập kỷ nghệ, mà luyện tập lấy đan điền làm gốc. Người học sau này phải lấy “đan điền thuyết” lĩnh hội cho tốt, như vậy mới có thể nhập vào võ đạo được.

Apr 13, 2013

HÌNH Ý QUYỀN QUYẾT VI - LƯU ĐIỆN SÂM



Tổng luận Hình Ý Quyền 总论者形意各项技术之总根底也。夫战争之道往往以白刃相加,只手抗敌为最后之胜利。则武技一门实行军之命脉也。然武技种类甚多,门分派别,各是其是。要言 之大概分为内外两派。外派之长不过练习腰腿灵活,捉拿钩打,封闭闪展,腾挪跳跃诸法,以遇敌制胜而其弊则在于虚招太多,徒炫人耳目,不切于实用。惟内家拳 法,纯本于先天,按阴阳、五行、六合、七疾、八要诸法以成其技,此则总根底,不能不先为培植也。夫人非气血不生,气血充足则精神健旺。若先天气亏后天即须 补救,补救之道在充其气养其血,但培养气血必先聚气于丹田,使丹田气足,然后内运于五脏,外发于四肢,再加以练习之功,血脉贯通,筋骨坚壮,内外如一,手 脚相合,动静有常,进退有法,手不虚发,发则必胜,心不妄动,动则必应。正所谓瘁然见于面,盎于背,施于四肢,随意所适,得心应手以成百战百胜之技者 也。

Lược Dịch:

Nói chung Hình Ý quyền và các loại kĩ thuật khác cũng đều có cái gốc chung. Đạo của chiến tranh thường thường là dùng vũ khí sắc bén để hổ trợ, chỉ tay không chống định đó là cái thắng lợi cuối cùng. Tức võ kĩ là một môn huyết mạch quan trọng trong thực hành quân đội. Nhưng chủng loại của võ kĩ rất nhiều, môn phân phái biệt, tất cả điều đúng điều hay. Nói một cách đại khái thì phân ra thành nội ngoại hai phái. Ngoại phái thì có nhiều lắm đi chăng nữa chẳng qua cũng có các phương pháp luyện eo chân linh hoạt, trốc nã câu đã (bắt, bẻ, mốc, đánh), phong bế thiểm triển (ngăn chặn, tránh, xoay), đằng na khiêu dược (nhảy né, hất cánh), khi gặp địch thì có thể chiến thắng bằng cách lừa dối tức là ở chổ hư chiêu quá nhiều, lừa dối tai mắt của người khác, không thực sự là thực dụng. Duy chỉ có nội gia quyền pháp, nguyên gốc thực sự ở tiên thiên, áp dụng các phương pháp âm dương, ngũ hành, lục hợp, thất tật, bát yếu để hình thành kĩ thuật, vậy thì căn bản chung, trước tiên phải vung trồng. Người không có khí, huyết không thể sinh, khí quyết sung túc thì tinh thần kiện vượng. Nếu tiên thiên khí yếu hậu thiên sẽ tu bổ cứu, đạo của bổ cứu là ở làm mạnh khí để dưỡng huyết, nhưng bổ dưỡng khí huyết trước tiên phải tụ khí đan điền, làm cho khí đầy đan điền, tiếp đó nội vận ở ngũ tạng, ngoại phát ở tứ chi, lại thêm công sức luyện tập, huyết mạch quán thông, gân cốt kiên tráng, nội ngoại như một, tay chân tương hợp, động tĩnh hữu thường, tiến thoái hữu pháp, thủ bất hư phát, phát tất phải thắng, tâm bất vọng động, độc tất phải ứng. Chính vì vậy gọi là gắng sức quan sát ở mặt, sung đầy ở lưng, thi hành ở tứ chi, tùy ý mà thích hợp, đắc tâm ứng thủ trở thành kĩ giả bách chiến bách thắng. 

Trích dịch: Hình Ý Quyền Thuật Quyết Vi

Mar 5, 2013

BÁT CỰC QUYỀN YẾU LĨNH - LÝ THƯ VĂN



tác giả: Lý Thư Văn
Chỉnh lý: Lý Chí Thành



Nguyên văn:

八极拳八要
一要:八极相合内外一致,上下相随完整一气。人乃一完整之躯,内外必须一致,上下要相随,要用六合劲,即眼与心合、心与气合、气与力合为内三合;肘与膝合、肩与胯合、手与足合为外三合。用与下身动作相随。
二要:身躯中正不倚不偏,下盘稳实劲发八面,尾阎中正不偏方可,前后左右进退运用自如,方能有横力直力,不致出项劲,方可变转灵活。
三要:提顶吊裆,含胸拔背,沉肩坠肘,十趾抓地。
四要:呼吸自然,气贯丹田,内七外三,意静神恬。
五要:以意行气,以气催力,力出自然,不僵不滞。
六要:碾步合膝,五心要实,两足平正,。十趾抓地。
七要:以腰为主,带动四肢,要发腋力。
八要:有吞有吐,有蓄有发,耸动有力,刚柔相济,变式要快,发力要狂,定式要稳,节奏分明。
李書文八极拳八忌
一忌:内外不一致,劲不完整。
二忌:出一面劲。
三忌:腆胸撅臀。
四忌:用僵力、强力、粘力。
五忌:眼神不正,练空不存意。
六忌:下盘不稳,步法虚浮。
七忌:虚实不分,无吞无吐。
八忌:闭气。



Lược dịch:

Bát Cực quyền bát yếu:
  1. Bát Cực tương hợp nội ngoại nhất trí, thượng hạ tương tùy hoàn chỉnh nhất khí. Con người chính là một thân thể hoàn chỉnh, nội ngoại phải nhất trí, trên dưới phải theo nhau, phải dùng lục hợp kình, tức là mắt cùng tâm hợp, tâm cùng khí hợp, khí cùng lực hợp đó là nội tam hợp, chỏ cùng gối hợp, vai cùng háng hợp, tay cùng chân hợp đó là ngoại tam hợp. động tác trên và dưới thân thì phải theo nhau.
  2. Thân thể trung chính không dựa không nghiên, hạ bàn ổn thực phát kình ra tám hướng, vĩ lư trung chính không thiên lệch, trước sau trái phải tiến thoái vận dụng tự nhiên, như vậy mới có thể có cả lực ngang và lực dọc, không đến nổi tiêu phí kình lực, lại vừa có thể biến chuyển linh hoạt.’
  3. Đề đỉnh, điếu đăng (treo háng), hàm hung bạt bối, trầm kiên trụy trửu, thập chỉ trảo địa.
  4. Hô hấp tự nhiên, khí quán đan điền, nội thất ngoại tam, ý tĩnh thần điềm.
  5. Lấy ý hành khí, lấy khí đẩy lực, lựu xuất tự nhiên, không cứng không chậm.
  6. Niễn bộ hợp tất, ngũ tâm yếu thực, lưỡng túc bình chính, thập chỉ trảo địa.
  7. Lấy eo làm chủ, kéo theo tứ chi, lực phải phát từ nách.
  8. Có nuốt có nhả, có súc có phát, rung động có lực, cương nhu tương tế, biến thức phải nhanh, phát lực phải cuồng, định thức phải ổn, tiết tấu phải rõ ràng.

Bát Cực quyền bát kỵ:
  1. Nội ngoại không nhất trí, kình không hoàn chỉnh.
  2. Chỉ phát kình ở một mặt.
  3. Ưỡn ngực nhô mông.
  4. Dùng cương lực, cường lực, niêm lực.
  5. Mắt không nhìn thẳng, chỉ luyện không mà không giữ ý.
  6. Hạ bàn bất ổn, bộ pháp hư phù.
  7. Hư thực bất phân, vô thôn vô thổ.
  8. Bế khí.
Lược dịch: Lâm Lai Hưng

Jan 7, 2013

YẾU LĨNH LUYỆN TẬP BÁT QUÁI CHƯỞNG

1. Thận hạng đề đỉnh, lưu đồn thâu khang.
Cái gọi là thuận hạng chính là cổ và ót (tức phần sau của đầu) phải vươn thẳng tự nhiên. Khi luyện tập, đầu không ngửa ra sau hoặc cúi xuống hay nghiên qua trái, qua phải.
Cái gọi là đề cảnh chính là cằm dưới kéo vào trong, đầu thẳng.
Cái gọi là lưu đồn chính là hạ mông xuống rồi thu vào trong, khi luyện tập mà mông nhấc lên thì không ổn.
Cái gọi là thâu khang chính là cơ ở vùng hậu môn phải thu vào chứ không thể thả lỏng.
2. Tùng kiên trầm trửu, thực phúc thưởng hung.
Cái gọi là tùng kiên chính là hai vai phải buông xuống khi luyện tập vai không được nhô lên. Trầm trửu là khủyu tay phải giữ trạng thái trầm xuống. khi luyện tập phải cong như hình bán nguyệt.
Bụng là nơi chứa khí, cái gọi là thực phúc chính là khi luyện tập phải hít sâu hơi vào trong bụng, khi bụng đầy khí thì sẽ có trạng thái khí trầm đơn điền, nội thả cổ thương.
Thưởng hung chính là thả lỏng phần ngực, phần ngực ảnh hưởng đến tim, vì vậy cũng ảnh hưởng đến sự lưu thông máu huyết. Do đó phải thả lỏng ngực ra.
3. Cổn toàn tranh lý, kỳ chính tương sinh.
Ở đây muốn nói đến sự thay đổi của kình lực khi luyện tập, cái gọi là cổn tức là động tác xoáy rút về của cổ tay, toàn tức là cổ tay rút về thật nhanh, khi đó tay từ phía trước mặt được rút xoáy về theo hình trôn ốc. Tranh tức là cổ tay mở ra ngoài, lý tức là cổ tay ôm vào trong, mục đích của bốn đọng tác này là mượn sự rút về để sinh ra lực.
Ví như lấy động tác cổn có hình tròn mà nói, nếu xỉa về phía trước thôi thì không có lực, kình lực của cổn chỉ có thể giữ được lực lớn nhất khi kình lực ở phía trước và phía sau nảy sinh ra mâu thuẫn. Vì vậy khi luyện tập cổn phải mang theo toàn, động tác xoay chuyển theo hình tròn phải là động tác theo hình trôn ốc, tranh và lý cũng như thế.
Chỉ có hai cổ tay và hai khuỷu tay ôm nhau cũng không đủ, ta cần phải sử dụng kình lý, nhưng kình lý là kình thu vào trong, không có kình phóng ra ngoài, giả sử trong kình lý mà mang theo kình tranh, sẽ có sự đối kháng giữa rút vào và mở ra, lúc đó cái gọi là mâu thuẫn giữa kình lực với nhau sẽ nảy sinh.
Hai chữ kỳ chính nói lên sự mâu thuẫn giữa hai sự vật khác tích chất. Kỳ chính tương sinh có thể nói thành “nảy sinh mâu thuẫn”.
Tất cả kình lực của Bát Quái Chưởng đều được phát huy do bốn loạn lực cổn, toàn, tranh, lý đối kháng nhau (chú thích: mỗi danh sự đều có cách giải thích khác nhau về bốn loại kình lực này).
4. Long hình hầu tướng, hổ tọa ưng phiên.
Ở đây muốn nói về sự thay đổi của thân hình, thân pháp và bộ phái khi luyện tập, một trong những đặc điểm của động tác Bát Quái Chưởng chính là tẩu (đi), bộ hình theo hình tròn này phải được đi tự nhiên như du long. Một trong những đặc điểm là thị (nhìn), trong Bát Quái Chưởng, khi di chuyển bộ pháp, khi thay đổi tay, hoặc khi xoay người cần phải chú ý nhìn hai tay. Có câu thủ nhãn tương tùy (tay đến đâu thì mắt đến đó), nhãn ở đây chính là nhìn,nó thể hiện sự vận động của tinh thần. Tinh thần ở đây cần phải cảnh giác giống như loài khỉ đang ôm vật mà sợ người ta giật, sự nhìn ở đây được thể hiện qua đôi mắt.
Đặc điểm thứ ba của Bát Quái Chưởng là tọa (ngồi), khi xoay người, hai chân phải như ngồi xuống, tuyệt đối không nên đứng thẳng, khi xoay người hoặc đổi chưởng, cũng thường có động tác tọa trang, động tác ngồi xổm này và thoái pháp cũng phải mạnh mẽ có lực như hổ ngồi.
Đặc điểm thứ tư trong Bát Quái Chưởng là phiên, cái gọi là phiên tức là động tác xoay người. Khi xoay người cần phải lanh lẹ như chim ứng đang chao liệng trên không trung.
5. Ninh toàn tẩu chuyển, đăng cước ma kinh.
Cái gọi là ninh toàn tẩu chuyển chính là khi di chuyển cần phải vặn eo, vặn khủyu tay, vặn tay, vặn cổ để sinh ra lực vặn.
Đăng cước ma kinh tức là khi tiến về phía trước chân đi phía trước phải bước nhẹ, còn chân đi phía sau phải đạp mạnh theo chân phía trước. Chân phía trước không nên đi quá sớm hoặc bước quá lớn.
6. Khúc thoái thượng nên, túc tâm hàm không.
Cái gọi là khúc thoái có nghĩa là khi bước đi hai chân phải ở trạng thái cong thích hợp, lực của thân người dồn vào hai chân, thượng ni tức là khi hai chân bước về phía trước không nên giơ quá cao, phải gióng như lê bước trong bùn.
Túc tâm hàm không có nghĩa là khi bước đi mũi chân và gót chân đồng thời hạ xuống đất, năm ngón chân phải như bấu xuống đất, như thế lòng bàn chân sẽ có trạng thái rỗng.
7. Khởi bình lạc khấu, liên hoàn tung hoành.
Cái gọi là khởi bình chính là chân dù cho bước cao cũng phải túc tâm hàm không, tức là mặt bàn chân phải nằm ngang. Còn khi hạ bước xuống thì ngón chân phải bấu xuống đất.
Liên hoàn là liên miên không dứt, ý thức không dứt, kình lực không tuyệt, động tác không ngừng.
8. Yêu như trụ lập, thủ dĩ luân hành.
Khi rèn luyện Bát Quái Chưởng cần phải lấy eo làm trụ, khi động tay trước tiên phải động thân, khi động thân trước tiên phải động eo, eo dẫn dắt tất cả mọi hành động, khi thay chưởng thì cổ tay phải hoạt động như hình tròn, bởi vì động tác của hình tròn tương đối nhanh nhẹn, ngoài ra cũng có tác dụng giữ cho động tác được liền mạch.
9. Chỉ phân chưởng ao, bài lạc bình kiên.
Cái gọi là chỉ phân chính là năm ngón tay mở ra, không khép vào với nhau, ao chưởng chính là lòng bàn tay phải khum lại thành hình lõm. Bài lặc có nghĩa là khi di chuyển hai cổ tay phải hoạt động theo hình tròn, không được đẩy về phía trước, còn bình kiên có nghĩa là hai vai chuyển ngang hoặc khi xoay người đổi chưởng thì phải giữ cho thăng bằng, không được bên cao bên thấp.
10. Trang như sơn nhạc, bộ tự thủy trung.
Cái gọi là trang chính là động tác mang tính ngừng, trang bộ trong Bát Quái Chưởng phải vững như núi, không thể có động tác mạnh như đẩy núi, bộ là ý muốn nói động tác mang tính động, thượng nên bộ trong Bát Quái Chưởng là một loại bộ pháp trong nặng có nhẹ.
Phương pháp luyện tập Bát Quái Chưởng không nặng nề cũng không nhẹ nhàng.
11. Hỏa thượng thủy hạ, thủy trọng hỏa khinh.
Trong thuyết âm dương ngũ hành, hỏa thuộc tâm, thủy thuộc thận, tâm hỏa thân thủy. Ở phía trước có nói đến thực phức thưởng hung chính là tâm phải trống rổng, mà phúc phải thật đầy đặn.
12. Ý như phiêu kỳ, hựu tự điểm đăng.
Vào thời cổ, khi luyện binh, để ra lệnh cho binh lính thay đổi trận pháp người ta dùng cờ và lửa. Còn trong vận động của Bát Quái Chưởng cũng do ý thức dẫn dắt cho động tác.
13. Phúc nải khí căng, khí tự vân hành.
Như phía trước đã nói, bụng là nơi chứa khí, khi rèn luyện trước tiên phải hít sâu khí vào bụng.
Như hít mạnh hay hít nhẹ? Trong Bát Quái Chưởng, khí vận hành có nghĩa là hít nhẹ như mây bay trên bầu trời chứ không phải hít mạnh.
14. Ý động sinh tuệ, khí hành bách khổng.
Ý động sinh tuệ có nghĩa là động tác của Bát Quái Chưởng cũng gióng như “ý như phiêu kỳ hựu tự điểm đăng” mà phía trước đã nói, động tác có ý thức sẽ rèn luyện được sự nhanh nhạy.
Còn khí hành bách khổng có nghĩa là việc hô hấp sâu trong Bát Quái Chưởng sẽ giúp cho khí đi đến các bộ phận cần thiết.
15. Triển phóng thu khẩn, động tĩnh viên tranh.
Cái gọi là “triển phóng thu khẩn” là ý muốn nói đến sự khai hợp của tư thế. Tư thế khai là phải mở ra một cách tự nhiên, còn tư thế hợp là phải thu vào chắc chắn. Còn “động tĩnh viên tranh” có nghĩa là trong động phải có tĩnh, trong tĩnh phải có động. Cực điểm của động phải là phát nguyên của tĩnh, cực điểm của tĩnh là phát nguyên của động. Như thế động và tĩnh mới có thể tuần hoàn.
16. Thần khí ý lực, hợp nhất tập trung.
Tinh thần, khí công, ý thức, lực là phía trước đã nói không phải được tập luyện tách rời với nhau mà phải hợp nhất tập trung, nếu không thể hợp nhất tập trung thì các động tác sẽ không nhất quán với nhau, không thể hợp nhất tay chân thì không thể nào hành động được.
Cái gọi là hợp nhất chính là “tay chân tương hợp, vai hông tương hợp, khuỷu gối tương hợp, thần khí tương hợp, khí lực tương hợp, trong ngoài tương hợp”.
Còn tập trung tức là lục hợp phải thống nhất, điều hòa tạo thành một thể hoàn chỉnh.
17. Bát chưởng chân lý, cụ tại thử trung.
Nếu có thể hoàn toàn nắm được phương pháp rèn luyện Bát Quái Chưởng như đã nói ở trước và vận dụng phương pháp này, như thế có thể nắm được kỹ thuật của Bát Quái Chưởng.
Những yếu lĩnh đã trình bày ở trên được dùng chung cho tất cả các động tác, cần phải hiểu và ứng dụng trong khi luyện tập các động tác.
 

(trích: Tùng Điền Long Trí - dịch: Hồ Tiến Huân, Bát Quái Chưởng, NXB Thể Dục Thể Thao, 2005.)


Dec 20, 2012

TÁC DỤNG TRỊ BỆNH CỦA BÁT QUÁI CHƯỞNG


    
Ở Trung Quốc, thậm chí trên toàn thế giới, người ta rất thích tập bài Thái Cực quyền, một trong những nguyên nhân đó là Thái cực quyền có hiệu quả rất tốt đối với việc giữ gìn sức khỏe và trị bệnh.
     Mấy năm gần đây, hiệu quả trị bệnh của Thái Cực quyền đã được nghiên cứu và chứng minh, thế nhưng đặc trưng của Thái Cực quyền trong các cuộc nghiên cứu này không phải là sự ứng dụng của động tác mềm mại và tròn trịa cùng với lực ý thức, mà được quyết định bởi sự vận động toàn thân một cách thích hợp, sự vận động hô hấp sâu… Đặc trưng này cũng phù hợp với Bát Quái chưởng, Bát Quái chưởng có cùng hiệu quả trị bệnh như Thái Cực quyền, ở đây xin được giải hích mấy điều về Bát Quái chưởng.
1.    Hiệu quả trị bệnh bình thường của Bát Quái chưởng.
·       Vì động tác mềm mại tròn trịa, trong khi luyện tập có thể khiến cho cơ bắp của toàn thân đạt đến sự thư thái khiến cho con người có cảm giác nhẹ nhàng, đại não cũng được nghỉ ngơi và yên tĩnh, cho nên có hiệu quả trị liệu đối với thần kinh. Ngoài ra, vì cơ bắp được thư giãn, huyết quản phản xạ cũng chậm lại, cho nên có hiệu quả rất tốt đối với những bệnh hạ huyết áp, cao huyết áp.
·       Vì tất cả mọi động tác đều thực hiện trong trạng thái có sự chỉ đạo của ý thức cao mà không cần dùng lực, do đó trong yên tĩnh đạt được sự tập trung tinh thần, sự hưng phấn đó và có thể kiểm soát, điều chỉnh hệ thống thần kinh một cách hiệu quả, đặc biệt đối với việc giải trừ áp lực.
·       Thuộc loại vận động mang tính toàn thân, do đó mỗi khi tập Bát Quái chưởng thì các cơ bắp và khớp của toàn thân đều được vận dụng, nếu luyện tập lâu dài, có thể khiến cho các khớp được vận động một cách linh hoạt, tính đàn hồi của các dây chằng cũng được cải thiện, đồng thời sức mạnh của cơ bắp cũng được tăng lên.
·       Hô hấp sâu và ổn định, hoàn toàn giống với nội công trong khí công, gần đây ở Trung Quốc người ta cho rằng có thể dùng loại khí công mới để trị liệu, gọi là Hành công, bởi vì phương pháp này là đi bộ để luyện công, nó có hiệu quả hoàn toàn giống như Bát Quái chưởng.
·       Theo cách luyện Thượng Trung Hạ bàn, có thể tiến hành luyện tập ở tư thế cao, cũng có thể tiến hành luyện tập ở tư thế thấp, tùy theo tình trạng của mỗi người mà có thể thay đổi, bất luận già trẻ gái trai mạnh hay yếu đều có thể luyện tập được.
·       Chỉ cần kiên trì luyện tập thì có thể mang lại sự cân bằng và sự hài hòa cho cơ thể.
2.    Ưu điểm của Bát Quái chưởng.
·       So với Thái Cực quyền, thì Bát Quái chưởng có ít hình thức, do đó nhớ dễ dàng, sau khi luyện quen thì có thể tổ hợp lại các bài Bát Quái chưởng đề bồi dưỡng sức sáng tạo.
·       Trái phải đều cân bằng, vừa đi trên vòng tròn, vừa thực hiện các động tác hai bên trái phải, vì không nghiêng vào bên nào, cho nên khiến cho toàn thân được vận động một cách cân bằng.
·       Ngoài việc đi trên vòng tròn, có thể giúp cho mọi người luyện tập sức khỏe, người luyện tập có thể luyện sức mạnh cho chi dưới và xương sống, giữ sức đàn hồi cho xương, phòng chống hiện tượng lão hóa, làm cho đôi chân được mạnh mẽ hơn, phòng ngừa các bệnh người già.
Từ phương pháp thể thao của tiến sĩ Kiều Bản mà nhìn nhận Bát Quái Chưởng:
Tiến sĩ Kiều Bản Kính Tam đã khai sáng ra môn thể thao pháp, gần đây đã đạt được nhiều kỳ thích và được giới y học quan tâm. Trong thể thao pháp, ông ta đã đưa ra bốn phương pháp hoạt động hít thở, ăn uống, vận động thân thể, hoạt động tinh thần, ông ta cho rằng đây là điều kiện tất yếu để con người tồn tại. Nếu những điều kiện này xa rời tự nhiên, cơ thể con người sẽ mất cân bằng.
Khi cơ thể mất cân bằng, người ta sẽ chữa trị bằng cách vận động các bộ phân khác. Ví dụ khi, vận động bằng gót chân và ngón chân sẽ trị liệu chứng căn cơ vai và đâu đầu… hoặc vận động cổ tay, khủy tay, vai, đầu có thể trị liệu chứng mất thăng bằng.
Động tác vặn xoáy trong Bát Quái chưởng là một mắt xích rất quan trọng, khi đổi chưởng, người ta đòi hỏi sự vận động từ khớp gối, eo, khủyu tay, cổ tay, ngón tay, sau khi xoay các bộ phận này, chúng ta mới tiến hành thức tiếp theo. Quá trình này hoàn toàn giống như bài tập thể thao mà tiến sĩ Kiều Bản Kính Tam đã đưa ra. Tác giả đã từng học môn thể thao này từ học trò của ông ta, khi luyện tập đã phát hiện ra rằng phương pháp này có điểm giống với Bát Quái chưởng, gần đây, người bệnh cao huyết áp, bệnh tiểu đường, bệnh béo phì, bệnh đau lưng, bệnh thần kinh, ngoại trừ chữa bệnh bằng cách châm cứu và thể thao, người ta cũng luyện tập Bát Quái Chưởng.

(Tác giả: Tùng Điền Long Trí, biên dịch: Hồ Tiến Huân, Bát Quái Chưởng, NXB Thể dục thể thao 2005)

Dec 9, 2012

TUYỆT CHIÊU TRONG VÕ THUẬT


Không ít người mới học võ rất tin tưởng vào các đòn đá tuyệt chiêu, mơ mộng rằng mình sẽ có một ngày có thể học được tuyệt chiêu nào đó để thành vô địch thiên hạ. Trên thực tế, bất cức một chiêu thức được gọi là “tuyệt chiêu” cũng đều có cách tương ứng để hóa giải, không có một “tuyệt chiêu” nào có thể chiến thắng tuyệt đối. Cho nên, trong “Thiếu Lâm quyền phổ” có viết: “chỉ có chiêu hay chứ không có tuyệt chiêu.” Nhưng phim ảnh võ thuật và tiểu thuyết võ hiệp đã hư cấu võ thuật thành huyền bí mê ly, khiến cho người ta khó nhận ra được bộ mặt thật của nó. Trong thời điểm gay cấn, có không ít cảnh nhân vật chính dùng “tuyệt chiêu “ để quyết định thắng bại, khiến cho người ta không phân biệt được hư thực, chân giả. Vậy thì, có người sẽ hỏi bạn chữ “tuyệt” trong “liên hoàn tuyệt cước” có ý nghĩa gì? Thật ra, “tuyệt cước” là loại cước pháp có độ khó cao mà quyết liệt, chứ không phải là loại cước pháp dẫn đến chiến thắng tuyệt đối. Bất cứ loại cước pháp cao siêu nào, nếu người học không hấp thu được, không tiêu hóa được, không dung hợp quán thông được, thì cũng chỉ là bàn chuyện đánh nhau trên giấy mà thôi. Sách này chuyên luận về cước pháp, đều thuộc loại cước pháp hay. Nếu như bạn có thể vận dụng đúng cách, ứng biến đúng lúc thì khi lâm chiến có thể dành quyền chủ động, khiến cho đòn chân của bạn trở thành xuất quỷ nhập thần cũng không phải là điều không thể được, đây là nói có “tuyệt chiêu” trong sự “không có tuyệt chiêu vậy”.


Gọi là “tuyệt chiêu” trong giao đấu thực tế là vì “quyền đả bất thức” (đánh mà không ai biết). Tức là những chiêu thức mà bạn sử dụng, đối phương chưa biết được sự lợi hại cũng như những sơ hở của nó. Vì vậy không thể đưa ra cách phòng thủ hữu hiệu đợt tấn công của bạn, mà cũng không thể đưa ra cách phản kích hữu hiệu đối với chiêu thức tấn công của bạn. Đối phương muốn phòng thủ cũng không xong, muốn phản kích cũng không được, cứ lúng túng mà lâm vào thế bị động. Trong các chiêu thức thuộc loại “quyền đả bất thức” này, có chiêu thức đánh lạc hướng đối phương, có chiêu thức tấn côn hiểm hóc, có chiêu thức vừa phòng thủ vừa phản kích, cũng có chiêu thức chủ động hoặc bị động ngã xuống đất để phản kích đối phương.
            Tóm lại, đối phương không biết được đòn thế của bạn, khiến cho bạn từ yếu thành mạnh, từ nguy hiểm thành an toàn, đều có thể gọi là “tuyệt chiêu”. Đương nhiên, đã được gọi là “tuyệt” thì động tác phải biến hóa khéo léo, ra đòn hiểm hóc, khiến đối phương bất ngờ, không thể phòng bị được. Đó cũng là những đặc điểm của “tuyệt chiêu”.
            Liên quan đến “tuyệt chiêu” còn có một thuyết nữa, người xưa gọi là phép “điểm huyệt bế khí”. Ở đây có dính dáng đến vấn đề võ đức, nếu sử dụng phép điểm huyệt bế khí bừa bãi thì trời đất không dung, người đời phỉ nhổ, pháp luật ngăn cấm. Thuật điểm huyệt bế khí trên thực tế là đánh vào những huyệt đạo thuộc hệ thống kinh lạc hay các bộ vị thuộc hệ thống thần kinh liên lạc với trung khu chỉ huy đại não, nặng thì mất mạng, nhẹ thì tê bại, ở mức độ vừa thì cũng có thể bị thương lục phủ ngũ tạng, hôn mê bất tỉnh. Thuật điểm huyệt bế khí là lối đánh bí truyền khá cao cấp, truy về nguồn gốc thì thuật này bắt đầu từ y học, được dùng vào múc đích nhân đạo. “Hoàng Đế Nội Kinh”, một quyển sách y học nổi tiếng thời cổ, cho rằng trên thì có thiên tượng, dưới thì có sống suối, giữa là chuyện con người, lấy ngũ hành lục khí nơi cơ thể con người phối hợp với âm dương của trời đất, lấy ngũ hành bốn mùa của trời đất ứng nghiệm vào các bộ vị trên cơ thể con người, thì có thể thấy được sự vi diệu. Điều này đã trải qua hơn hai ngàn năm mà không hề suy vi. Từ trong môn học tìm hiểu về con người để chửa bệnh, người học võ đã tìm ra được thuật điểm huyệt để đánh người.

            Thuật điểm huyệt bế khí đã trải qua một thời gian dài được các võ thuật gia không ngừng nghiên cứu và tích lũy kinh nghiệm, nội dung rất phong phú, trong đó gồm có: điểm huyệt (điểm vào huyệt), bế khí (làm cho khí bị bế tắt), phân cân (làm gân bị đứt), tiệt mạch (làm cho mạch bị nghẽn), thác cốt (làm sai khớp xương), chấn tạng (làm nội tạng bị chấn thương). Trong đó thuật phân cân, tiệt mạch, thác cốt thuộc về phạm vi môn cầm nã thủ, còn chấn tạng, điểm huyệt, bế khí là tinh túy của lối đánh điểm huyệt, trong đó lối điểm huyệt cách không là cao siêu nhất.
            Phàm những tuyệt chiêu có thể gọi là “tuyệt”, cũng đều có những cách kềm chế, bản thân nó cũng có tính hạn chế rất lớn. Thứ nhất là không thể luyện thành trong một hai năm, thứ hai là bị ước thúc bởi sức mạnh của lời thề (sức mạnh của lời thề là một loại sức mạnh tinh thần, là một sự thể hiện cao độ của năng lượng, không phải là mê tín, cũng không phải là thứ hư ảo nào đó, tất cả những thứ thuộc về năng lượng tinh thần đều có thể có được bằng phương pháp luyện tập tương ứng), điều thứ ba là không cách nào bạn có thể an nhiên sử dụng khi hoàn cảnh không cho phép. Bất cứ tuyệt chiêu nào, cũng chỉ có thể thực hiện trong một điều kiện nhất định nào đó.
            Đến đây bạn đã biết được trên đời này không có một tuyệt chiêu nào có thể đem lại chiến thắng tuyệt đối, bát cứ một chiêu thức nào cũng diều có chỗ sở trường và sở đoản của nó. Chỉ có tập luyện cho thật thuần thục kỹ thuật và trui rèn trong giao đấu thực tế, trải qua khảo nghiệm nhiều trường hợp, từ thuần thục mà sinh ra khéo léo, từ khéo léo mà đạt đến tinh hoa, khi đã đạt đến cảnh giới tinh hoa (tức chiêu thức đã được tiêu hóa và trở thành một với bản thân) thì chiêu nào cũng đều là “tuyệt”. Tập võ cũng như đi xe đạp, lúc mới tập đi xe đạp thì dù có đi đường bằng phẳng cũng sẽ bị té, đến khi thuần thục rồi thì sự điều khiển sẽ trở thành tự động, tâm vừa ghi nhận thông tin từ hoàn cảnh thì mọi hoạt động của cơ thể đều ứng theo, vì thế không còn bị ngã nữa. Tập võ cũng vậy, không thường giao đấu thì người giỏi võ cũng sẽ trở thành dở, vì nó cũng không như tập đi xe đạp vậy, lúc ra thực tế thì không hành động theo quyết định chủ quan được, mà về cơ bản là phải dựa vào kinh nghiệm thực tế đã tích lũy trong quá khứ. Trong các tình thế biến hóa phức tạp, bạn cần phải tùy cơ ứng biến. Một người đấu võ đã luyện đến cảnh giới tinh hoa thì mới có thể phát huy những chiêu thức mà mình tập luyện lúc bình thường thành những “tuyệt chiêu”. Nếu không, dù là một chiêu thức cao tuyệt đến đâu đi nữa, trong phản ứng của bạn nó cũng sẽ để lộ rất nhiều sơ hở (bạn cần chú ý thêm một điều là, thường thường, những chiêu thức cao tuyệt lại càng có nhiều sơ hở). Cho nên đối với tuyệt chiêu, một là bạn đừng quá sùng bái, hai là bạn phải khổ luyện. Luyện tập nhiều, giao đấu nhiều, thì bạn có thể biến cái bình thường thành kì tích. Trong giao đấu thực tế, bạn cần xác lập cho mình một lối đánh thói quen có đặc điểm phù hợp với mình, rồi lại luyện một vài chiêu lạ. Theo nguyên tắc “Binh bất yếm trá, kì chính tương sinh” (việc binh làm sao không có chuyện dối trá, phải lấy lối đánh bình thường và lối đánh đột ngột tương hổ cho nhau), luyện cho tới cảnh giới tinh hoa để hình thành những “tuyệt chiêu” của bản thân. Hư Hư thực thực, khiến cho đối phương không nhìn ra được chiêu số của bạn, bị bạn điều động và chi phối trong giao đấu thực tế. Khi làm được vậy thì bạn đã có tuyệt chiêu. Tuyệt chiêu vố là như thế! Đương nhiên kẻ mạnh còn có kẻ mạnh hơn, sau mỗi trận bạn phải tổng kết rút ra bài học từ phai phía, bao gồm cả việc lợi dụng kinh nghiệm của đối phương để không ngừng làm phong phú kinh nghiệm của mình, nâng cao trình độ giao đấu  thực tế của mình (bạn cần phải có vài lối đánh như thế), thì mới có thể duy trì trình độ “tuyệt”. Đó gọi là tuyệt chiêu mà không tuyệt, không tuyệt lại là tuyệt, tới lui phải trái, tránh né lạng lách, mọi động tác đều dung hội quán thông, tâm thái tự nhiên, không chút sơ sót, không chút miễn cưỡng, một chổ trên cơ thể mà động thì không chổ nào trên cơ thể là không động, một chổ phát kình thì không chổ nào là không phát kình, đạt tới cảnh giới tùy tâm ứng thủ một cách tự do thì mới là “tuyệt”.
            Khi thảo luận về tuyệt chiêu, bạn đừng quyên hai câu ngạn ngữ võ thuật: “lưỡng cường tương ngộ dũng giả thắng” (hai kẻ mạnh gặp nhau, ai can đảm hơn sẽ thắng), “nhất đảm, nhị lực,tam kỹ xảo” (nhất là can đảm, nhì là sức mạnh, ba là khéo léo). Sức mạnh và sự khéo léo đương nhiên là quan trọng, nhưng quạn trong hơn vẫn là lòng dũng cảm. Lòng dũng cảo làm bật ra sức mạnh của tâm lý. Đây là nội dung quan trọng trong luận thuyết tập luyện của môn phái Thiếu Lâm Kim Cang Thiền.
Trích trong: Thiếu Lâm Chính Tông Liên Hoàn Tuyệt Cước, NXB Phương Đông, 2006
(ảnh chỉ mang tính minh họa)