trang chủ

Mar 5, 2013

BÁT CỰC QUYỀN YẾU LĨNH - LÝ THƯ VĂN



tác giả: Lý Thư Văn
Chỉnh lý: Lý Chí Thành



Nguyên văn:

八极拳八要
一要:八极相合内外一致,上下相随完整一气。人乃一完整之躯,内外必须一致,上下要相随,要用六合劲,即眼与心合、心与气合、气与力合为内三合;肘与膝合、肩与胯合、手与足合为外三合。用与下身动作相随。
二要:身躯中正不倚不偏,下盘稳实劲发八面,尾阎中正不偏方可,前后左右进退运用自如,方能有横力直力,不致出项劲,方可变转灵活。
三要:提顶吊裆,含胸拔背,沉肩坠肘,十趾抓地。
四要:呼吸自然,气贯丹田,内七外三,意静神恬。
五要:以意行气,以气催力,力出自然,不僵不滞。
六要:碾步合膝,五心要实,两足平正,。十趾抓地。
七要:以腰为主,带动四肢,要发腋力。
八要:有吞有吐,有蓄有发,耸动有力,刚柔相济,变式要快,发力要狂,定式要稳,节奏分明。
李書文八极拳八忌
一忌:内外不一致,劲不完整。
二忌:出一面劲。
三忌:腆胸撅臀。
四忌:用僵力、强力、粘力。
五忌:眼神不正,练空不存意。
六忌:下盘不稳,步法虚浮。
七忌:虚实不分,无吞无吐。
八忌:闭气。



Lược dịch:

Bát Cực quyền bát yếu:
  1. Bát Cực tương hợp nội ngoại nhất trí, thượng hạ tương tùy hoàn chỉnh nhất khí. Con người chính là một thân thể hoàn chỉnh, nội ngoại phải nhất trí, trên dưới phải theo nhau, phải dùng lục hợp kình, tức là mắt cùng tâm hợp, tâm cùng khí hợp, khí cùng lực hợp đó là nội tam hợp, chỏ cùng gối hợp, vai cùng háng hợp, tay cùng chân hợp đó là ngoại tam hợp. động tác trên và dưới thân thì phải theo nhau.
  2. Thân thể trung chính không dựa không nghiên, hạ bàn ổn thực phát kình ra tám hướng, vĩ lư trung chính không thiên lệch, trước sau trái phải tiến thoái vận dụng tự nhiên, như vậy mới có thể có cả lực ngang và lực dọc, không đến nổi tiêu phí kình lực, lại vừa có thể biến chuyển linh hoạt.’
  3. Đề đỉnh, điếu đăng (treo háng), hàm hung bạt bối, trầm kiên trụy trửu, thập chỉ trảo địa.
  4. Hô hấp tự nhiên, khí quán đan điền, nội thất ngoại tam, ý tĩnh thần điềm.
  5. Lấy ý hành khí, lấy khí đẩy lực, lựu xuất tự nhiên, không cứng không chậm.
  6. Niễn bộ hợp tất, ngũ tâm yếu thực, lưỡng túc bình chính, thập chỉ trảo địa.
  7. Lấy eo làm chủ, kéo theo tứ chi, lực phải phát từ nách.
  8. Có nuốt có nhả, có súc có phát, rung động có lực, cương nhu tương tế, biến thức phải nhanh, phát lực phải cuồng, định thức phải ổn, tiết tấu phải rõ ràng.

Bát Cực quyền bát kỵ:
  1. Nội ngoại không nhất trí, kình không hoàn chỉnh.
  2. Chỉ phát kình ở một mặt.
  3. Ưỡn ngực nhô mông.
  4. Dùng cương lực, cường lực, niêm lực.
  5. Mắt không nhìn thẳng, chỉ luyện không mà không giữ ý.
  6. Hạ bàn bất ổn, bộ pháp hư phù.
  7. Hư thực bất phân, vô thôn vô thổ.
  8. Bế khí.
Lược dịch: Lâm Lai Hưng

Jan 7, 2013

YẾU LĨNH LUYỆN TẬP BÁT QUÁI CHƯỞNG

1. Thận hạng đề đỉnh, lưu đồn thâu khang.
Cái gọi là thuận hạng chính là cổ và ót (tức phần sau của đầu) phải vươn thẳng tự nhiên. Khi luyện tập, đầu không ngửa ra sau hoặc cúi xuống hay nghiên qua trái, qua phải.
Cái gọi là đề cảnh chính là cằm dưới kéo vào trong, đầu thẳng.
Cái gọi là lưu đồn chính là hạ mông xuống rồi thu vào trong, khi luyện tập mà mông nhấc lên thì không ổn.
Cái gọi là thâu khang chính là cơ ở vùng hậu môn phải thu vào chứ không thể thả lỏng.
2. Tùng kiên trầm trửu, thực phúc thưởng hung.
Cái gọi là tùng kiên chính là hai vai phải buông xuống khi luyện tập vai không được nhô lên. Trầm trửu là khủyu tay phải giữ trạng thái trầm xuống. khi luyện tập phải cong như hình bán nguyệt.
Bụng là nơi chứa khí, cái gọi là thực phúc chính là khi luyện tập phải hít sâu hơi vào trong bụng, khi bụng đầy khí thì sẽ có trạng thái khí trầm đơn điền, nội thả cổ thương.
Thưởng hung chính là thả lỏng phần ngực, phần ngực ảnh hưởng đến tim, vì vậy cũng ảnh hưởng đến sự lưu thông máu huyết. Do đó phải thả lỏng ngực ra.
3. Cổn toàn tranh lý, kỳ chính tương sinh.
Ở đây muốn nói đến sự thay đổi của kình lực khi luyện tập, cái gọi là cổn tức là động tác xoáy rút về của cổ tay, toàn tức là cổ tay rút về thật nhanh, khi đó tay từ phía trước mặt được rút xoáy về theo hình trôn ốc. Tranh tức là cổ tay mở ra ngoài, lý tức là cổ tay ôm vào trong, mục đích của bốn đọng tác này là mượn sự rút về để sinh ra lực.
Ví như lấy động tác cổn có hình tròn mà nói, nếu xỉa về phía trước thôi thì không có lực, kình lực của cổn chỉ có thể giữ được lực lớn nhất khi kình lực ở phía trước và phía sau nảy sinh ra mâu thuẫn. Vì vậy khi luyện tập cổn phải mang theo toàn, động tác xoay chuyển theo hình tròn phải là động tác theo hình trôn ốc, tranh và lý cũng như thế.
Chỉ có hai cổ tay và hai khuỷu tay ôm nhau cũng không đủ, ta cần phải sử dụng kình lý, nhưng kình lý là kình thu vào trong, không có kình phóng ra ngoài, giả sử trong kình lý mà mang theo kình tranh, sẽ có sự đối kháng giữa rút vào và mở ra, lúc đó cái gọi là mâu thuẫn giữa kình lực với nhau sẽ nảy sinh.
Hai chữ kỳ chính nói lên sự mâu thuẫn giữa hai sự vật khác tích chất. Kỳ chính tương sinh có thể nói thành “nảy sinh mâu thuẫn”.
Tất cả kình lực của Bát Quái Chưởng đều được phát huy do bốn loạn lực cổn, toàn, tranh, lý đối kháng nhau (chú thích: mỗi danh sự đều có cách giải thích khác nhau về bốn loại kình lực này).
4. Long hình hầu tướng, hổ tọa ưng phiên.
Ở đây muốn nói về sự thay đổi của thân hình, thân pháp và bộ phái khi luyện tập, một trong những đặc điểm của động tác Bát Quái Chưởng chính là tẩu (đi), bộ hình theo hình tròn này phải được đi tự nhiên như du long. Một trong những đặc điểm là thị (nhìn), trong Bát Quái Chưởng, khi di chuyển bộ pháp, khi thay đổi tay, hoặc khi xoay người cần phải chú ý nhìn hai tay. Có câu thủ nhãn tương tùy (tay đến đâu thì mắt đến đó), nhãn ở đây chính là nhìn,nó thể hiện sự vận động của tinh thần. Tinh thần ở đây cần phải cảnh giác giống như loài khỉ đang ôm vật mà sợ người ta giật, sự nhìn ở đây được thể hiện qua đôi mắt.
Đặc điểm thứ ba của Bát Quái Chưởng là tọa (ngồi), khi xoay người, hai chân phải như ngồi xuống, tuyệt đối không nên đứng thẳng, khi xoay người hoặc đổi chưởng, cũng thường có động tác tọa trang, động tác ngồi xổm này và thoái pháp cũng phải mạnh mẽ có lực như hổ ngồi.
Đặc điểm thứ tư trong Bát Quái Chưởng là phiên, cái gọi là phiên tức là động tác xoay người. Khi xoay người cần phải lanh lẹ như chim ứng đang chao liệng trên không trung.
5. Ninh toàn tẩu chuyển, đăng cước ma kinh.
Cái gọi là ninh toàn tẩu chuyển chính là khi di chuyển cần phải vặn eo, vặn khủyu tay, vặn tay, vặn cổ để sinh ra lực vặn.
Đăng cước ma kinh tức là khi tiến về phía trước chân đi phía trước phải bước nhẹ, còn chân đi phía sau phải đạp mạnh theo chân phía trước. Chân phía trước không nên đi quá sớm hoặc bước quá lớn.
6. Khúc thoái thượng nên, túc tâm hàm không.
Cái gọi là khúc thoái có nghĩa là khi bước đi hai chân phải ở trạng thái cong thích hợp, lực của thân người dồn vào hai chân, thượng ni tức là khi hai chân bước về phía trước không nên giơ quá cao, phải gióng như lê bước trong bùn.
Túc tâm hàm không có nghĩa là khi bước đi mũi chân và gót chân đồng thời hạ xuống đất, năm ngón chân phải như bấu xuống đất, như thế lòng bàn chân sẽ có trạng thái rỗng.
7. Khởi bình lạc khấu, liên hoàn tung hoành.
Cái gọi là khởi bình chính là chân dù cho bước cao cũng phải túc tâm hàm không, tức là mặt bàn chân phải nằm ngang. Còn khi hạ bước xuống thì ngón chân phải bấu xuống đất.
Liên hoàn là liên miên không dứt, ý thức không dứt, kình lực không tuyệt, động tác không ngừng.
8. Yêu như trụ lập, thủ dĩ luân hành.
Khi rèn luyện Bát Quái Chưởng cần phải lấy eo làm trụ, khi động tay trước tiên phải động thân, khi động thân trước tiên phải động eo, eo dẫn dắt tất cả mọi hành động, khi thay chưởng thì cổ tay phải hoạt động như hình tròn, bởi vì động tác của hình tròn tương đối nhanh nhẹn, ngoài ra cũng có tác dụng giữ cho động tác được liền mạch.
9. Chỉ phân chưởng ao, bài lạc bình kiên.
Cái gọi là chỉ phân chính là năm ngón tay mở ra, không khép vào với nhau, ao chưởng chính là lòng bàn tay phải khum lại thành hình lõm. Bài lặc có nghĩa là khi di chuyển hai cổ tay phải hoạt động theo hình tròn, không được đẩy về phía trước, còn bình kiên có nghĩa là hai vai chuyển ngang hoặc khi xoay người đổi chưởng thì phải giữ cho thăng bằng, không được bên cao bên thấp.
10. Trang như sơn nhạc, bộ tự thủy trung.
Cái gọi là trang chính là động tác mang tính ngừng, trang bộ trong Bát Quái Chưởng phải vững như núi, không thể có động tác mạnh như đẩy núi, bộ là ý muốn nói động tác mang tính động, thượng nên bộ trong Bát Quái Chưởng là một loại bộ pháp trong nặng có nhẹ.
Phương pháp luyện tập Bát Quái Chưởng không nặng nề cũng không nhẹ nhàng.
11. Hỏa thượng thủy hạ, thủy trọng hỏa khinh.
Trong thuyết âm dương ngũ hành, hỏa thuộc tâm, thủy thuộc thận, tâm hỏa thân thủy. Ở phía trước có nói đến thực phức thưởng hung chính là tâm phải trống rổng, mà phúc phải thật đầy đặn.
12. Ý như phiêu kỳ, hựu tự điểm đăng.
Vào thời cổ, khi luyện binh, để ra lệnh cho binh lính thay đổi trận pháp người ta dùng cờ và lửa. Còn trong vận động của Bát Quái Chưởng cũng do ý thức dẫn dắt cho động tác.
13. Phúc nải khí căng, khí tự vân hành.
Như phía trước đã nói, bụng là nơi chứa khí, khi rèn luyện trước tiên phải hít sâu khí vào bụng.
Như hít mạnh hay hít nhẹ? Trong Bát Quái Chưởng, khí vận hành có nghĩa là hít nhẹ như mây bay trên bầu trời chứ không phải hít mạnh.
14. Ý động sinh tuệ, khí hành bách khổng.
Ý động sinh tuệ có nghĩa là động tác của Bát Quái Chưởng cũng gióng như “ý như phiêu kỳ hựu tự điểm đăng” mà phía trước đã nói, động tác có ý thức sẽ rèn luyện được sự nhanh nhạy.
Còn khí hành bách khổng có nghĩa là việc hô hấp sâu trong Bát Quái Chưởng sẽ giúp cho khí đi đến các bộ phận cần thiết.
15. Triển phóng thu khẩn, động tĩnh viên tranh.
Cái gọi là “triển phóng thu khẩn” là ý muốn nói đến sự khai hợp của tư thế. Tư thế khai là phải mở ra một cách tự nhiên, còn tư thế hợp là phải thu vào chắc chắn. Còn “động tĩnh viên tranh” có nghĩa là trong động phải có tĩnh, trong tĩnh phải có động. Cực điểm của động phải là phát nguyên của tĩnh, cực điểm của tĩnh là phát nguyên của động. Như thế động và tĩnh mới có thể tuần hoàn.
16. Thần khí ý lực, hợp nhất tập trung.
Tinh thần, khí công, ý thức, lực là phía trước đã nói không phải được tập luyện tách rời với nhau mà phải hợp nhất tập trung, nếu không thể hợp nhất tập trung thì các động tác sẽ không nhất quán với nhau, không thể hợp nhất tay chân thì không thể nào hành động được.
Cái gọi là hợp nhất chính là “tay chân tương hợp, vai hông tương hợp, khuỷu gối tương hợp, thần khí tương hợp, khí lực tương hợp, trong ngoài tương hợp”.
Còn tập trung tức là lục hợp phải thống nhất, điều hòa tạo thành một thể hoàn chỉnh.
17. Bát chưởng chân lý, cụ tại thử trung.
Nếu có thể hoàn toàn nắm được phương pháp rèn luyện Bát Quái Chưởng như đã nói ở trước và vận dụng phương pháp này, như thế có thể nắm được kỹ thuật của Bát Quái Chưởng.
Những yếu lĩnh đã trình bày ở trên được dùng chung cho tất cả các động tác, cần phải hiểu và ứng dụng trong khi luyện tập các động tác.
 

(trích: Tùng Điền Long Trí - dịch: Hồ Tiến Huân, Bát Quái Chưởng, NXB Thể Dục Thể Thao, 2005.)


Dec 20, 2012

TÁC DỤNG TRỊ BỆNH CỦA BÁT QUÁI CHƯỞNG


    
Ở Trung Quốc, thậm chí trên toàn thế giới, người ta rất thích tập bài Thái Cực quyền, một trong những nguyên nhân đó là Thái cực quyền có hiệu quả rất tốt đối với việc giữ gìn sức khỏe và trị bệnh.
     Mấy năm gần đây, hiệu quả trị bệnh của Thái Cực quyền đã được nghiên cứu và chứng minh, thế nhưng đặc trưng của Thái Cực quyền trong các cuộc nghiên cứu này không phải là sự ứng dụng của động tác mềm mại và tròn trịa cùng với lực ý thức, mà được quyết định bởi sự vận động toàn thân một cách thích hợp, sự vận động hô hấp sâu… Đặc trưng này cũng phù hợp với Bát Quái chưởng, Bát Quái chưởng có cùng hiệu quả trị bệnh như Thái Cực quyền, ở đây xin được giải hích mấy điều về Bát Quái chưởng.
1.    Hiệu quả trị bệnh bình thường của Bát Quái chưởng.
·       Vì động tác mềm mại tròn trịa, trong khi luyện tập có thể khiến cho cơ bắp của toàn thân đạt đến sự thư thái khiến cho con người có cảm giác nhẹ nhàng, đại não cũng được nghỉ ngơi và yên tĩnh, cho nên có hiệu quả trị liệu đối với thần kinh. Ngoài ra, vì cơ bắp được thư giãn, huyết quản phản xạ cũng chậm lại, cho nên có hiệu quả rất tốt đối với những bệnh hạ huyết áp, cao huyết áp.
·       Vì tất cả mọi động tác đều thực hiện trong trạng thái có sự chỉ đạo của ý thức cao mà không cần dùng lực, do đó trong yên tĩnh đạt được sự tập trung tinh thần, sự hưng phấn đó và có thể kiểm soát, điều chỉnh hệ thống thần kinh một cách hiệu quả, đặc biệt đối với việc giải trừ áp lực.
·       Thuộc loại vận động mang tính toàn thân, do đó mỗi khi tập Bát Quái chưởng thì các cơ bắp và khớp của toàn thân đều được vận dụng, nếu luyện tập lâu dài, có thể khiến cho các khớp được vận động một cách linh hoạt, tính đàn hồi của các dây chằng cũng được cải thiện, đồng thời sức mạnh của cơ bắp cũng được tăng lên.
·       Hô hấp sâu và ổn định, hoàn toàn giống với nội công trong khí công, gần đây ở Trung Quốc người ta cho rằng có thể dùng loại khí công mới để trị liệu, gọi là Hành công, bởi vì phương pháp này là đi bộ để luyện công, nó có hiệu quả hoàn toàn giống như Bát Quái chưởng.
·       Theo cách luyện Thượng Trung Hạ bàn, có thể tiến hành luyện tập ở tư thế cao, cũng có thể tiến hành luyện tập ở tư thế thấp, tùy theo tình trạng của mỗi người mà có thể thay đổi, bất luận già trẻ gái trai mạnh hay yếu đều có thể luyện tập được.
·       Chỉ cần kiên trì luyện tập thì có thể mang lại sự cân bằng và sự hài hòa cho cơ thể.
2.    Ưu điểm của Bát Quái chưởng.
·       So với Thái Cực quyền, thì Bát Quái chưởng có ít hình thức, do đó nhớ dễ dàng, sau khi luyện quen thì có thể tổ hợp lại các bài Bát Quái chưởng đề bồi dưỡng sức sáng tạo.
·       Trái phải đều cân bằng, vừa đi trên vòng tròn, vừa thực hiện các động tác hai bên trái phải, vì không nghiêng vào bên nào, cho nên khiến cho toàn thân được vận động một cách cân bằng.
·       Ngoài việc đi trên vòng tròn, có thể giúp cho mọi người luyện tập sức khỏe, người luyện tập có thể luyện sức mạnh cho chi dưới và xương sống, giữ sức đàn hồi cho xương, phòng chống hiện tượng lão hóa, làm cho đôi chân được mạnh mẽ hơn, phòng ngừa các bệnh người già.
Từ phương pháp thể thao của tiến sĩ Kiều Bản mà nhìn nhận Bát Quái Chưởng:
Tiến sĩ Kiều Bản Kính Tam đã khai sáng ra môn thể thao pháp, gần đây đã đạt được nhiều kỳ thích và được giới y học quan tâm. Trong thể thao pháp, ông ta đã đưa ra bốn phương pháp hoạt động hít thở, ăn uống, vận động thân thể, hoạt động tinh thần, ông ta cho rằng đây là điều kiện tất yếu để con người tồn tại. Nếu những điều kiện này xa rời tự nhiên, cơ thể con người sẽ mất cân bằng.
Khi cơ thể mất cân bằng, người ta sẽ chữa trị bằng cách vận động các bộ phân khác. Ví dụ khi, vận động bằng gót chân và ngón chân sẽ trị liệu chứng căn cơ vai và đâu đầu… hoặc vận động cổ tay, khủy tay, vai, đầu có thể trị liệu chứng mất thăng bằng.
Động tác vặn xoáy trong Bát Quái chưởng là một mắt xích rất quan trọng, khi đổi chưởng, người ta đòi hỏi sự vận động từ khớp gối, eo, khủyu tay, cổ tay, ngón tay, sau khi xoay các bộ phận này, chúng ta mới tiến hành thức tiếp theo. Quá trình này hoàn toàn giống như bài tập thể thao mà tiến sĩ Kiều Bản Kính Tam đã đưa ra. Tác giả đã từng học môn thể thao này từ học trò của ông ta, khi luyện tập đã phát hiện ra rằng phương pháp này có điểm giống với Bát Quái chưởng, gần đây, người bệnh cao huyết áp, bệnh tiểu đường, bệnh béo phì, bệnh đau lưng, bệnh thần kinh, ngoại trừ chữa bệnh bằng cách châm cứu và thể thao, người ta cũng luyện tập Bát Quái Chưởng.

(Tác giả: Tùng Điền Long Trí, biên dịch: Hồ Tiến Huân, Bát Quái Chưởng, NXB Thể dục thể thao 2005)

Dec 9, 2012

TUYỆT CHIÊU TRONG VÕ THUẬT


Không ít người mới học võ rất tin tưởng vào các đòn đá tuyệt chiêu, mơ mộng rằng mình sẽ có một ngày có thể học được tuyệt chiêu nào đó để thành vô địch thiên hạ. Trên thực tế, bất cức một chiêu thức được gọi là “tuyệt chiêu” cũng đều có cách tương ứng để hóa giải, không có một “tuyệt chiêu” nào có thể chiến thắng tuyệt đối. Cho nên, trong “Thiếu Lâm quyền phổ” có viết: “chỉ có chiêu hay chứ không có tuyệt chiêu.” Nhưng phim ảnh võ thuật và tiểu thuyết võ hiệp đã hư cấu võ thuật thành huyền bí mê ly, khiến cho người ta khó nhận ra được bộ mặt thật của nó. Trong thời điểm gay cấn, có không ít cảnh nhân vật chính dùng “tuyệt chiêu “ để quyết định thắng bại, khiến cho người ta không phân biệt được hư thực, chân giả. Vậy thì, có người sẽ hỏi bạn chữ “tuyệt” trong “liên hoàn tuyệt cước” có ý nghĩa gì? Thật ra, “tuyệt cước” là loại cước pháp có độ khó cao mà quyết liệt, chứ không phải là loại cước pháp dẫn đến chiến thắng tuyệt đối. Bất cứ loại cước pháp cao siêu nào, nếu người học không hấp thu được, không tiêu hóa được, không dung hợp quán thông được, thì cũng chỉ là bàn chuyện đánh nhau trên giấy mà thôi. Sách này chuyên luận về cước pháp, đều thuộc loại cước pháp hay. Nếu như bạn có thể vận dụng đúng cách, ứng biến đúng lúc thì khi lâm chiến có thể dành quyền chủ động, khiến cho đòn chân của bạn trở thành xuất quỷ nhập thần cũng không phải là điều không thể được, đây là nói có “tuyệt chiêu” trong sự “không có tuyệt chiêu vậy”.


Gọi là “tuyệt chiêu” trong giao đấu thực tế là vì “quyền đả bất thức” (đánh mà không ai biết). Tức là những chiêu thức mà bạn sử dụng, đối phương chưa biết được sự lợi hại cũng như những sơ hở của nó. Vì vậy không thể đưa ra cách phòng thủ hữu hiệu đợt tấn công của bạn, mà cũng không thể đưa ra cách phản kích hữu hiệu đối với chiêu thức tấn công của bạn. Đối phương muốn phòng thủ cũng không xong, muốn phản kích cũng không được, cứ lúng túng mà lâm vào thế bị động. Trong các chiêu thức thuộc loại “quyền đả bất thức” này, có chiêu thức đánh lạc hướng đối phương, có chiêu thức tấn côn hiểm hóc, có chiêu thức vừa phòng thủ vừa phản kích, cũng có chiêu thức chủ động hoặc bị động ngã xuống đất để phản kích đối phương.
            Tóm lại, đối phương không biết được đòn thế của bạn, khiến cho bạn từ yếu thành mạnh, từ nguy hiểm thành an toàn, đều có thể gọi là “tuyệt chiêu”. Đương nhiên, đã được gọi là “tuyệt” thì động tác phải biến hóa khéo léo, ra đòn hiểm hóc, khiến đối phương bất ngờ, không thể phòng bị được. Đó cũng là những đặc điểm của “tuyệt chiêu”.
            Liên quan đến “tuyệt chiêu” còn có một thuyết nữa, người xưa gọi là phép “điểm huyệt bế khí”. Ở đây có dính dáng đến vấn đề võ đức, nếu sử dụng phép điểm huyệt bế khí bừa bãi thì trời đất không dung, người đời phỉ nhổ, pháp luật ngăn cấm. Thuật điểm huyệt bế khí trên thực tế là đánh vào những huyệt đạo thuộc hệ thống kinh lạc hay các bộ vị thuộc hệ thống thần kinh liên lạc với trung khu chỉ huy đại não, nặng thì mất mạng, nhẹ thì tê bại, ở mức độ vừa thì cũng có thể bị thương lục phủ ngũ tạng, hôn mê bất tỉnh. Thuật điểm huyệt bế khí là lối đánh bí truyền khá cao cấp, truy về nguồn gốc thì thuật này bắt đầu từ y học, được dùng vào múc đích nhân đạo. “Hoàng Đế Nội Kinh”, một quyển sách y học nổi tiếng thời cổ, cho rằng trên thì có thiên tượng, dưới thì có sống suối, giữa là chuyện con người, lấy ngũ hành lục khí nơi cơ thể con người phối hợp với âm dương của trời đất, lấy ngũ hành bốn mùa của trời đất ứng nghiệm vào các bộ vị trên cơ thể con người, thì có thể thấy được sự vi diệu. Điều này đã trải qua hơn hai ngàn năm mà không hề suy vi. Từ trong môn học tìm hiểu về con người để chửa bệnh, người học võ đã tìm ra được thuật điểm huyệt để đánh người.

            Thuật điểm huyệt bế khí đã trải qua một thời gian dài được các võ thuật gia không ngừng nghiên cứu và tích lũy kinh nghiệm, nội dung rất phong phú, trong đó gồm có: điểm huyệt (điểm vào huyệt), bế khí (làm cho khí bị bế tắt), phân cân (làm gân bị đứt), tiệt mạch (làm cho mạch bị nghẽn), thác cốt (làm sai khớp xương), chấn tạng (làm nội tạng bị chấn thương). Trong đó thuật phân cân, tiệt mạch, thác cốt thuộc về phạm vi môn cầm nã thủ, còn chấn tạng, điểm huyệt, bế khí là tinh túy của lối đánh điểm huyệt, trong đó lối điểm huyệt cách không là cao siêu nhất.
            Phàm những tuyệt chiêu có thể gọi là “tuyệt”, cũng đều có những cách kềm chế, bản thân nó cũng có tính hạn chế rất lớn. Thứ nhất là không thể luyện thành trong một hai năm, thứ hai là bị ước thúc bởi sức mạnh của lời thề (sức mạnh của lời thề là một loại sức mạnh tinh thần, là một sự thể hiện cao độ của năng lượng, không phải là mê tín, cũng không phải là thứ hư ảo nào đó, tất cả những thứ thuộc về năng lượng tinh thần đều có thể có được bằng phương pháp luyện tập tương ứng), điều thứ ba là không cách nào bạn có thể an nhiên sử dụng khi hoàn cảnh không cho phép. Bất cứ tuyệt chiêu nào, cũng chỉ có thể thực hiện trong một điều kiện nhất định nào đó.
            Đến đây bạn đã biết được trên đời này không có một tuyệt chiêu nào có thể đem lại chiến thắng tuyệt đối, bát cứ một chiêu thức nào cũng diều có chỗ sở trường và sở đoản của nó. Chỉ có tập luyện cho thật thuần thục kỹ thuật và trui rèn trong giao đấu thực tế, trải qua khảo nghiệm nhiều trường hợp, từ thuần thục mà sinh ra khéo léo, từ khéo léo mà đạt đến tinh hoa, khi đã đạt đến cảnh giới tinh hoa (tức chiêu thức đã được tiêu hóa và trở thành một với bản thân) thì chiêu nào cũng đều là “tuyệt”. Tập võ cũng như đi xe đạp, lúc mới tập đi xe đạp thì dù có đi đường bằng phẳng cũng sẽ bị té, đến khi thuần thục rồi thì sự điều khiển sẽ trở thành tự động, tâm vừa ghi nhận thông tin từ hoàn cảnh thì mọi hoạt động của cơ thể đều ứng theo, vì thế không còn bị ngã nữa. Tập võ cũng vậy, không thường giao đấu thì người giỏi võ cũng sẽ trở thành dở, vì nó cũng không như tập đi xe đạp vậy, lúc ra thực tế thì không hành động theo quyết định chủ quan được, mà về cơ bản là phải dựa vào kinh nghiệm thực tế đã tích lũy trong quá khứ. Trong các tình thế biến hóa phức tạp, bạn cần phải tùy cơ ứng biến. Một người đấu võ đã luyện đến cảnh giới tinh hoa thì mới có thể phát huy những chiêu thức mà mình tập luyện lúc bình thường thành những “tuyệt chiêu”. Nếu không, dù là một chiêu thức cao tuyệt đến đâu đi nữa, trong phản ứng của bạn nó cũng sẽ để lộ rất nhiều sơ hở (bạn cần chú ý thêm một điều là, thường thường, những chiêu thức cao tuyệt lại càng có nhiều sơ hở). Cho nên đối với tuyệt chiêu, một là bạn đừng quá sùng bái, hai là bạn phải khổ luyện. Luyện tập nhiều, giao đấu nhiều, thì bạn có thể biến cái bình thường thành kì tích. Trong giao đấu thực tế, bạn cần xác lập cho mình một lối đánh thói quen có đặc điểm phù hợp với mình, rồi lại luyện một vài chiêu lạ. Theo nguyên tắc “Binh bất yếm trá, kì chính tương sinh” (việc binh làm sao không có chuyện dối trá, phải lấy lối đánh bình thường và lối đánh đột ngột tương hổ cho nhau), luyện cho tới cảnh giới tinh hoa để hình thành những “tuyệt chiêu” của bản thân. Hư Hư thực thực, khiến cho đối phương không nhìn ra được chiêu số của bạn, bị bạn điều động và chi phối trong giao đấu thực tế. Khi làm được vậy thì bạn đã có tuyệt chiêu. Tuyệt chiêu vố là như thế! Đương nhiên kẻ mạnh còn có kẻ mạnh hơn, sau mỗi trận bạn phải tổng kết rút ra bài học từ phai phía, bao gồm cả việc lợi dụng kinh nghiệm của đối phương để không ngừng làm phong phú kinh nghiệm của mình, nâng cao trình độ giao đấu  thực tế của mình (bạn cần phải có vài lối đánh như thế), thì mới có thể duy trì trình độ “tuyệt”. Đó gọi là tuyệt chiêu mà không tuyệt, không tuyệt lại là tuyệt, tới lui phải trái, tránh né lạng lách, mọi động tác đều dung hội quán thông, tâm thái tự nhiên, không chút sơ sót, không chút miễn cưỡng, một chổ trên cơ thể mà động thì không chổ nào trên cơ thể là không động, một chổ phát kình thì không chổ nào là không phát kình, đạt tới cảnh giới tùy tâm ứng thủ một cách tự do thì mới là “tuyệt”.
            Khi thảo luận về tuyệt chiêu, bạn đừng quyên hai câu ngạn ngữ võ thuật: “lưỡng cường tương ngộ dũng giả thắng” (hai kẻ mạnh gặp nhau, ai can đảm hơn sẽ thắng), “nhất đảm, nhị lực,tam kỹ xảo” (nhất là can đảm, nhì là sức mạnh, ba là khéo léo). Sức mạnh và sự khéo léo đương nhiên là quan trọng, nhưng quạn trong hơn vẫn là lòng dũng cảm. Lòng dũng cảo làm bật ra sức mạnh của tâm lý. Đây là nội dung quan trọng trong luận thuyết tập luyện của môn phái Thiếu Lâm Kim Cang Thiền.
Trích trong: Thiếu Lâm Chính Tông Liên Hoàn Tuyệt Cước, NXB Phương Đông, 2006
(ảnh chỉ mang tính minh họa)

Nov 26, 2012

XÂY DỰNG KẾ HOẠCH TẬP LUYỆN VÕ THUẬT



Để đạt kết quả, trước hết bạn phải có mục tiêu. Sau đó bạn phải có phương pháp. Thứ ba, bạn phải có những tiêu chí đánh giá sự tiến bộ để có thể điều chỉnh phương pháp của mình sao cho không bị trật nhịp. Cuối cùng, bạn cần phải có lòng kiên trì và sự bền chí để tiếp tục luyện Võ thuật. Bạn cũng có thể gọi những yếu tố trên là một chương trình tập luyện. Đó cũng có thể là một mục tiêu mà bạn cần phải có ở trên đời. Một chương trình luyện Võ thuật nên có những yếu tố căn bản như sau:
·         Luyện kỹ năng (là các bài tập thể lực để tăng cường sức khỏe, độ dẻo dai và sức chịu đựng) và chiêu thức (là tập luyện cách thức thực hiện các kỹ thuật theo một thứ tự liên tục và không ngừng)
·         Tập luyện theo nhóm (đặc biệt là trong khi tập ứng dụng vào thực tế) và luyện tập một mình (đặc biệt cần thiết để bảo đảm bạn sẽ hiểu hoàn toàn tất cả các bài tập và có thể thực hiện riêng một mình)
·         Luyện ngoại công và thể chất cũng như luyện nội công và tinh thần, nói ngắn gọi là tập cả ngoại công và nội công.
Nhưng trước tiên bạn cần phải lập ra một “ngân sách” cho chương trình của mình.

BẠN CẦN BAO NHIÊU THỜI GIAN VÀ NỔ LỰC ĐỂ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH NÀY?

Cân nhắc kỹ

Để có một chương trình luyện Võ thuật bạn cần phải đặt ra những mục tiêu riêng của mình. Bạn cần biết rằng bạn muốn đạt được điều gì trong khi luyện võ thuật, điều đó sẽ giúp cho bạn xác định được bạn cần thiết phải dành bao nhiêu nỗ lực và thời gian cho việc tập luyện này. Tại sao bạn lại luyện Võ thuật? Bạn muốn thực hiện việc gì? Bạn muốn có một sức khỏe và cường tráng phải không? Bạnđang tập luyện bởi vì bạn muốn học cách đánh đấm đá giống các diễn viên Võ thuật phải không? hay bạn muốn học Võ thuật vì bạn muốn học và biết rõ các kỹ thuật tự vệ.
Thứ hai , tương tự lý do trên, mục tiêu của bạn là làm cách nào để đánh giá được sự tiến bộ của bạn. Bạn sẽ đánh giá sự tiến bộ của mình và đánh giá chương trình tập luyện này có hiệu quả hay không, và có tiến bộ nhanh chóng hay không. Hiểu được động cơ và biết được cách đánh giá về tiến độ của mình sẽ giúp bạn tập trung vào chương trình tập luyện sao cho bạn có thể nhìn thấy kết quả và cảm thấy hài lòng với nổ lực của mình.
Thứ ba, cân nhắc thứ tự ưu tiên. Học Võ thuật so với các hoạt động khác trong cuộc sống cái nào quan trọng hơn? Bạn cũng cần có trách nhiệm và lòng quan tâm đối với nghề nghiệp, với gia  đình, với bạn bè và với các thú vui khác. Võ thuật có hợp với toàn bộ cuộc sống của bạn hay không? Câu hỏi này có thể sẽ dẫn bạn trở lại mục tiêu thứ nhất nêu trên nhưng với tâm nhìn rộng liên quan đến cuộc sống của mình. Bạn muốn hoàn thành việc gì trong cuộc đời, và một phần nhỏ trong cuộc đời của bạn có đống góp như thế nào đối với bức tranh toàn thể. Thái độ của bạn cực kỳ quan trọng. Võ thuật có thể là một phần lớn hay phần nhỏ trong cuộc đời của bạn. Bạn cũng có thể coi đó là một phương tiên để tự hoàn thiện mình, để cho cơ thể không những cường tráng mà tinh thần còn minh mẫn. Bạn không chỉ muốn phát triển cơ bấp đấm đá mà còn muốn có sức mạnh, và quan trọng hơn, là khả năng không đấm đá, và thiện chí, lòng tự tin, tính tự kỷ luật để giải quyết vấn đề một cách hòa bình. Đây chính là mục tiêu ban đầu và chân chính của Võ thuật. Vì thế thành tâm nghiên cứu Võ thuật sẽ đem lại khả năng phát triển dần dần các khía cạch khác trong cuộc sống của bạn. Nhưng để nhận ra được tiềm năng đó bạn phải coi Võ thuật là ưu tiên hàng đầu trong cuộc đời mình và hãy bắt tay vào tập luyện.

Thời khóa biểu.

Sau khi xem lại mục tiêu khi quyết định tập Võ thuật và xem xét mối quan hệ giữa Võ thuật với các mục tiêu khác trong đời, hãy xét đến thời khóa biểu. bạn có thể dành bao nhiêu thời gian cho các lớp Võ thuật? Bạn có thể tập ở nhà bao lâu và thường xuyên đến mức độ nào? Bao giờ bạn có thể bắt đầu tập luyện? Bổ sung một vài chi tiết vào thời khóa biểu của mình cũng có nghĩa là bạn phải loại bỏ hoặc giảm bớt thời gian dành cho những thứ khác, nếu vậy Võ thuật sẽ thay thế việc gì? Hãy cố gắng thực tế một chút. Ngay từ đầu, hãy đặt ra một thời khóa biểu tập luyện mà bạn tin rằng bạn có thể theo được ngay bay giờ. Trước tiên hãy đặt ra mục tiêu và thời khóa biểu trong vòng 3 tháng, sau đó đánh giá và điều chỉnh. Việc này cũng có thể giúp bạn bảo đảm rằng bạn sẽ nhận ra kết quả, cảm thấy hài lòng vì hoàn thành được những gì đặt ra.
Những người mới bắt đầu thường hỏi: “tôi nên đến lớp mấy lần một tuần? Tôi có nên tập thêm ở nhà hay không? Nếu tập thêm ở nhà thì tôi phải tập bao lâu?”
Thường câu trả lời sẽ tùy thuộc vào mỗi cá nhân. Nhưng nhiều sư phụ có kinh nghiệm thường thống nhất ý kiến về một hướng dẫn chung như sau:
Thứ nhất, để duy trì sự phát triển liên tục của các cơ, để bảo đảm bạn vẫn nhớ những gì vừa mới học, để có thể nhanh chóng nhận ra sự tiến bộ, thời khóa biểu lý tưởng là tập 3 lần/ tuần. Như vậy, cơ thể của bạn một ngày tập một ngày nghỉ, nhưng tâm trí của bạn không quên những gì bạn vừa mới học. Nếu bạn ở tập ở trường, các thầy sẽ sớm nhận ra sai sót của bạn và chỉnh sửa trước khi những sai lầm đó trở thành thói quen xấu. Khi bạn đến trường (là nơi hoàn toàn chỉ để tập luyện và nơi có những người khác dành thời gian tập luyện), bạn sẽ chăm chỉ tập luyện hơn khi bạn dự định tập luyện ở nhà để tự rèn luyện kỷ luật cho mình.
Nếu không đến được 3 lần/ tuần thì có thể đến 2 lần/ tuần. Một lần nữa xin nhắc lại, nếu bạn đi tập 2 lần/ tuần thì những gì bạn học vẫn còn tươi mới trong đầu và vơ thể bạn sẽ phát triển được các cơ và sự kết hợp. Vì thế bạn có thể nhận ra sự tiến bộ một cách dể dàng. Một vài thầy giỏi cho rằng 2 lần/ tuần là mức tối thiểu phải duy trì trong khi bạn tập luyện.
Hầu hết các sư phụ đều không khuyến khích luyện Võ thuật 1 lần/ tuần, trừ khi ở nhà bạn tập luyện vô cùng châm chỉ. Vấn đề chính ở đây là nếu không đi tập thường xuyên thì bạn có xu hướng quên hết những gì đã học. Vì thế khi đến trường bạn lại phải dành một phần lớn thời gian để ôn lại thay vì để tiến lên. Nếu các thành viên trong lớp đi học thường xuyên thì lại càng bất lợi cho bạn. Vì tập luyện thường xuyên, các bạn đồng môn không những nhớ nhiều hơn mà còn thực hiện tốt hơn. Như vậy bạn sẽ càng cảm thấy mình không tiến bộ, dần dần bạn không còn ham muốn nữa và cuối cùng sẽ bỏ học.
Chỉ cần tập luyện thường xuyên, chắc chắn bạn sẽ thấy mình tiến bộ. Những nổ lực như vậy không bao giờ là uống phí, nhưng để có kết quả rõ ràng và để duy trì động cơ tập luyện cũng như sự ý thức của bản thân mình trong lớp, hãy cố gắng đến lớp và tập luyện ở nhà 3 lần/ tuần. Bên cạnh yếu tố đi tập thường xuyên, yếu tố thứ hai cũng quan trọng không kém là giờ giấc tập luyện: buổi sáng, buổi chiều, giữa bữa trưa. Thời gian không quan trọng bằng sự thương xuyên, bạn hãy quyết định khi nào thì bắt đầu tập luyện và cứ thế mà theo. Đây chính là yếu tố làm cho việc đi đến lớp tập luyện có nhiều ưu thế về tâm lý hơn là tập luyện một mình ở nhà. Thời gian ở lớp thường cố định và bạn phải trả tiền thì mới được vào lớp, vì thế bán sẽ không phân vân khi nào sẽ tập và trong bao lâu. Và như vậy, trong tâm trí bạn sẽ không còn nhiều chổ để thương lượng hay bàn cãi gì nữa.
Ngược lại, nếu bạn tập ở nhà thì có một nguy cơ là một ngày nào đó bạn sẽ không tự giác tập luyện, hoặc có một vài niềm vui khác hay bị một số việc khác ngăn cản. Một lần nữa bạn phải tự có ý thức một cách thực tế về bản thân mình, về công việc và về thời khóa biểu của mình.
Hầu hết mọi người đều thấy thích hợp nhát là tập ào buổi sáng trước khi đi làm. Mọi người cảm thấy mạnh khỏe sau 2 giấc ngủ dài và sáng sớm thường không bị quấy rầy như điện thoại, gặp gỡ hay hẹn hò với ai. Cản trở lớn nhất là làm sao ra khỏi giường. Trong trường hợp đó bạn phải quyết tâm và luôn đặt ra ưu tiên để đảm bảo bạn sẽ thực hiện nghiêm túc thời khóa biểu của mình.
Tập luyện theo mùa
Thời xưa, các võ sư thường lợi dụng các mùa trong năm để tập luyện cho phù hợp. Nghĩa là khi thời tiết ấm áp, cơ thể tự nhiên sẽ lanh lợi và linh hoạt hơn, vì thế tập luyện sẽ nhanh chóng hơn và bạn có thể đạt được kết quả chỉ trong khoảng thời gian bằng một nữa so với khi tập luyện trong thời tiết lạnh. vì thế, thời ấy người ta luyện Võ thuật từ tháng tư hoặc năm tiếp tục đến thán tám thì kết thúc. Để đạt được kết quả tương tự, vào mùa thu hoặc mùa đông thì phải mất 7 – 8 tháng.
Với các tòa nhà có gắn máy sưởi hiện đại và khí hậu ấm áp hơn, người ta không còn phải nghe theo những lời khuyên như vậy nữa, nhưng đây cũng không phải là một lời khuyên vô nghĩa trong khi bạn định thiết lập thời khóa biểu tập Võ thuật. Thường nếu tập luyện theo thiên nhiên thì tốt hơn và làm cho bạn có cảm giác sảng khoái hơn. Vì thế bạn có thể tập luyện vừa phải trong những ngày tháng lạnh lẽo, và khi mùa xuân đến thì hãy tăng cường hơn để tăng hiệu quả quá trình tập luyện của bạn.

Cấu trúc buổi tập

Cấu trúc của một buổ tập về căn bản đều giống nhau ở bất cứ đẳng cấp nào, tuy nhiên các bậc khác nhau có những điểm nhấn khác nhau. Một giờ tập luyện thường phải có đủ các yếu tố sau đây:
  • Làm nóng
  • Luyện kỹ năng
  • Luyện thể lực và sức chịu đựng
  • Chiêu thức/ đấu đối kháng tự do
  • Thư giãn, thả lỏng, ngồi thiền.
Mỗi buổi tập, theo lẽ tự nhiên, bắt đầu bằng việc làm nóng và kết thúc bằng việc thả lỏng, thường là ngồi thiền. Đối với các yếu tốt khác, thứ tự và thời gian tập luyện có thể khác nhau ở mỗi lò võ, đối với mỗi đẳng cấp và mỗi môn sinh.
Giai đoạn đầu, đối với những người mới học, chiêu thức sẽ được nhấn mạnh hơn, những chiêu thức này sẽ rèn luyện và duy trì sức mạnh cơ bắp và phát triển các kỹ năng là gốc, rễ và nền tảng của tất cả những chiêu thức Võ thuật sau này. Vẻ đẹp, sức mạnh và sự hiệu quả đều bắt nguồn từ việc nắm rõ các thế đứng căn bản, các kỹ thuật về tay và chân. Vì thế các thầy thường yêu cầu những người mới tập phải tập trung hoàn toàn vào những kỹ năng này để tăng cường sức mạnh cơ bấp và sức chịu đựng, phát triển sự kết hợp và khả năng giữ thăng bằng. Các môn sinh phải học cách đứng tấn khác nhau sao cho đúng và tự động mà không phải suy nghĩ gì cả. Thêm nữa, họ phải làm quen với tên của mỗi thế tấn và mỗi động tác. Sự đơn giản của những kỹ năng này cũng giúp các môn sinh giữ được tinh thần trong sáng hơn và tập trung được hơn. Vì thế, những kỹ năng này không chỉ tốt cho các môn sinh mới bắt đầu luyện Võ thuật mà còn có ích cho họ mỗi khi bắt đầu những giai đoạn đẳng cấp cao hơn..
Tăng cường thể lực và luyện sức chịu đựng cũng rất quan trọng ở giai đoạn này. Có rất nhiều cách phát triển cơ bấp và tăng cường sức chịu đựng: nhảy dây, hít đất, nâng tạ, hít xà đơn, thể dục dụng cụ hay tự tập bất cứ phương pháp nào có tác dụng. Hầu hết các trường đều có phương pháp riêng, đặc biệt là để phát triển các cơ cụ thể cần cho các bộ tay, chân ở trong môn phái.
Hãy hỏi sư phụ khi bạn muốn luyện tập thể lực và sức chịu đựng. Các thầy sẽ chỉ cho bạn đi hướng đúng nhất  và tốc độ thích hợp nhất.
Tiếp theo, các môn sinh bắt đầu học chiêu thức. Sau khi học phát triển một vài kỹ năng thực hiện các động tác căn bản, những người mới sẽ được học chiêu thức đơn giản. các chiêu thức này thách thức môn sinh phải di chuyển nhanh và gọn từ thế tấn này sang thế tấn khác. Chiêu thức đầu tiên sẽ được dạy ột cách đơn giản và ngắn gọn, ác khái niệm mới sẽ được giới thiệu từ từ sao cho các môn sinh dần dần phát triển về căn bản và hiểu biết sâu sắc về chiêu thức này.
Sau khi đã nắm vững các chiêu thức căn bản, các môn sinh sẽ chuyển sang các chiêu thức dài hơn và phức tạp hơn có cả những chiêu thức đấu cập. Thêm nữa, các môn sinh đã nắm vững các yếu tốt căn bản và cách ứng dụng cũng sẽ được tập đối kháng. Lúc này hầu hết các môn sinh cũng đã bắt đầu học cách sử dụng binh khí, bắt đầu bằng vũ khí bằng gỗ và sau đó sẽ dùng bằng gươm và giáo.
Sau khi đã biết nhiều kĩ thuật các môn sinh phải đào sâu luyện tập. Các thầy sẽ nhấn mạnh cách ứng dụng của những tư thế khác nhau của chiêu thức, có nghĩa là nên thực hiện một động tác cụ thể như thế nào để chống trả lại hành động của một đối phương vô hình. Các thầy cũng nhấn mạnh sự tinh tế của các chiêu thức đó qua hàng tháng, cũng có thể hằng năm luyện tập. Lúc đó các cao đồ sẽ hiểu sự tinh tế mà trước đây họ chưa cảm nhận được, và vì thế họ sẽ đối mặt với thách thức mới trong việc học lại chính các chiêu thức này.
Do vậy, chương trình luyện tập rất năng động, thay đổi và khác nhau ở mỗi trường tùy thuộc tính cách của sư phụ và tùy đẳng cấp. Khi ở trường bạn sẽ phải nghe theo lời thầy và theo cả lớp. Khi ở nhà bạn có thể theo một quy trình do bạn đặt ra. Tập luyện một mình là một thách thức khá lớn đối với trí nhớ và sẽ làm phát triển mạnh trí nhớ của bạn đối với những gì đã học.
Nhưng lúc nào cũng phải lưu ý chỉ tập những gì bạn đã biết. Nếu không nắm chắc chắn về một động tác hay  một thứ tự nào đó thì hãy để hôm sau đến lớp hỏi lại. Cố gắng tránh những thói quen xấu. Nếu không nhớ thì khi đến giờ tiếp theo chỉ tập trung vào một hoặc hai động tác của một chiêu thức. khi đã chắc chắn là mình đã hiểu và thực hiện đúng, bạn nên luyện tập chiêu thức đó cho đến khi thuộc lòng thì thôi. Những nổ lực như vậy không bao giờ là uổng phí.
CÁC MÔN SINH LỚN TUỔI VÀ CÁC MÔN SINH KHÔNG PHÙ HỢP
Võ thuật thường phù hợp với tất cả mọi người. Tuy nhiên mọi người nên tập luyện heo thể chất và tùy quan niệm sống. Ngoài 30 tuổi, việc rèn luyện thân thể có liên quan đến thói quen tập luyện, chế độ ăn kiêng hay mức độ quan tâm sức khỏe hằng ngày hơn là liên quan đến độ tuổi. Những người tuổi 50 có thể khỏe mạnh hơn những người ở tuổi 40, còn tùy thuộc họ tự chăm sóc mình như thế nào.
Tuy vậy, vẫn có một vài nguyên tắc căn bản và một vài lời khuyên cho những người lớn tuổi (Và những người trẻ tuổi không được khỏe mạnh về thể chất) khi họ bắt đầu tập Võ thuật lần đầu tiên. Nguyên tắc đầu tiên và quan trọng nhất là tập luyện chậm rãi, dành nhiều thời gian làm nóng và co duỗi cũng như điều hòa về sau. Mỗi khi học kỹ thuật hay chiêu thức mới, hãy học có phương pháp và từ từ. Lưu ý tăng mức độ linh hoạt dần dần. Hãy kiên trì vì cơ thể bạn cận nhiều thời gian hơn để thực hiện mọi việc – từ phát triển kình lực và sự linh hoạt đến phục hồi sau mỗi buổi tập.
Hãy tập trung, thực hiện chính xác và đúng tốc độ từng động tác. Sau mới tăng dần tốc độ.
Thứ hai, khi học các kỹ thuật, hãy tập trung vào những điều căn bẳn, đừng quan tâm những chiêu thức rồng bay phượng múa bên ngoài. Đừng cố gắng nhảy quá mạnh, vươn tới hay đứng tấn quá sâu như những người trẻ tuổi. Thay vì thế, hãy tập trung đứng tấn vững, cân bằng và kết hợp theo căn bản. trên thực tế đó chính là nguồn gốc của kình lực thực sự và sự duyên dáng của Võ thuật, nên những nổ lực tập luyện như vậy sẽ được tưởng thưởng xứng đáng.
Thứ ba, hãy tập nhẹ nhàng. Khi đứng tấn căn bản, lúc đầu hãy đứng tấn cao, sau đó mới từ từ hạ thấp để tăng dần cường độ của bài tập. Đừng làm quá mức, không nên làm cho cơ thể quá mệt mỏi.
Cuối cùng hãy an tâm chấp nhận tình trạng sức khỏe của mình. Những người lớn tuổi thường có sức bền hơn, khả năng hiểu sâu sắc hơn và có lợi thế trong việc phát triển sức khỏe toàn diện. Hãy chấp nhận cả sức mạnh và điểm yếu của cơ thể mình và sử dụng chúng như một dụng cụ để đạt được mục tiêu.
Trích: Paul Eng, tự học kungfu căn bản, NXB Tổng Hợp TPHCM, 2005. (bản đánh máy này có chỉnh sửa đôi chổ cho phù hợp)

Nov 19, 2012

(P2) HỌC CHIÊU THỨC VÕ THUẬT


Các chiêu thức có các độ khó và độ dài khác nhau. Trong hầu hết các môn phái, thứ tự học và dạy các chiêu thức hầu như là tiêu chuẩn có tính cố định qua các thế hệ truyền dạy. Những người mới bắt đầu học những chiêu thức ngắn và đơn giản, dần dần sẽ học các chiêu thức dài hơn và thách thức hơn. Mạc dù như vậy, cũng như với môn nghệ thuật khác như nhạc, khiêu vũ, các cao đồ có thể thấy chiêu thức đơn giản cũng là một thách thức khi họ hiểu sâu sắc hơn và kỹ năng của họ đã phát triển cũng như hiểu biết của họ đã được đào sâu hơn.



Người mới bắt đầu có thể được học những chiêu thức ngay từ những ngày đầu, mặc dù, tất nhiên, còn tùy môn phái, tùy trường, tùy sư phụ, cũng như tùy khả năng của môn sinh. Lúc đầu môn sinh sẽ được học những chiêu thức đơn giản có ít động tác và kỹ thuật ít phức tạp. Ở giai đoạn này, các môn sinh sinh không chỉ học những động tác cá nhân mà còn cố gắng làm quen với tên gọi của chúng (như mã tấn, đấm chặn, đá, đẩy…). Học tên của chiêu thức thực sự rất quan trọng ở giai đoạn này, và cần quan tâm đến mối liên hệ của tên gọi với động tác. Học những tên này sẽ giúp học các chiêu thức phức tạp được dễ dàng hơn, giống như bạn đã tự đặt một cái tên ở trong tâm trí của mình cho một động tác cần phải nhớ. Ngoài ra, khi sự phụ sửa cho bạn, bạn cũng sẽ biết ông ấy đang nói về cái gì. Đối với các võ sư, tên của các động tác và chiêu thức là một điều tự nhiên, có thể họ đang cố gắng giúp bạn và sửa lại cho bạn bằng cách gọi tên những động tác đó. Khi bạn đã có thể hiểu và đáp ứng ngay lập tức thì mọi thứ sẽ suôn sẽ hơn.
Trong khi học những chiêu thức mới có một vài lưu ý cho các bạn như sau:
1.      Ghi nhớ chiêu thức: Bước đầu tiên là phải ghi nhớ thự tự của các động tác. Chỉ cần học thứ tự này. Bạn phải tập từ đầu đến cuối không ngừng giữa chừng. Hãy luyện tập cho đến khi nào thứ tự này trở thành tự động.
2.      Giữ thăng bằng tốt và hài hòa, chú ý sự kết hợp và thời gian: một khi bạn đã biết được thứ tự, hãy cố gắng luyện giữ thăng bằng và sự hài hòa. Lúc nào chân cũng phải vững vàng, bất kể có giữ trọng tâm hay không. Bạn cần cảm thấy vững vàng, trong khi đầu, xương sống và thân dưới trên cùng đường thẳng. Nếu có gương, hãy dùng gương để chỉnh lại tư thế của mình. Thường xuyên dừng lại giữa chiêu thức để kiểm tra – xương sống có thẳng không? Vai có buông lỏng không? Chân có chạm đất không? Nên lưu ý đến tay và chân có tương quan với nhau. Cái nào di chuyển trước? chúng có di chuyển cùng lúc hay không ? thời gian và sự kết hợp một phần là kết quả của việc ứng dụng mà bạn sẽ tập trung luyện ở giai đoạn kế tiếp.
3.      Học cách ứng dụng: Sau khi ghi nhớ chiêu thức, đứng tấn vững, giữ thân người và các chi đúng tư thế, tiếp theo bạn cần phải hiểu được ý nghĩa của các động tác trong khi có đối thủ tưởng tượng trước mặt. Phần này gọi là “ứng dụng”. Hiểu được ứng dụng sẽ cho phép bạn điều chỉnh kết hợp tay chân, và bạn sẽ có thể di chuyển một cách thông minh hơn – nghĩa là thực hiện chiêu thức như thể bạn đang thực sự đánh, tấn công hay khóa đối phương. Chiêu thức mà bạn thực hiện vì thế có ý nghĩa hơn cũng như duyên dáng và đầy kình lực. Thường thì sự phụ sẽ biểu diễn các ứng dụng của mỗi động tác của một chiêu thức với các sư phụ khác hay với các môn sinh khác. Hãy chú ý kết hợp tay và chân. Cái nào di chuyển trước? có di chuyển cùng lúc hay không? Nói chung, chân bao giờ cũng di chuyển trước tay. Người học võ có câu: “bộ đáo thủ bất đáo, đả nhân đả bất đảo. Thủ đáo bộ bất đáo, đả nhân như bạt thảo” (nếu chân đến mà tay không đến, đánh người người không ngã. Nếu tay đến chân không đến, đánh người như quét qua ngọn cỏ). Cách duy nhất học kết hợp chân tay là qua quan sát. Bạn phải tập trung đặc biết để phát triển được sự hiểu biết thể chát về cách cảm nhận và thực hiện trôi chảy những động tác khi bạn thực hiện chiêu thức.
Sau khi xem thầy hướng dẫn, hãy tìm người cùng tập và bắt đầu tự tập luyện. Hãy cố gắng cảm nhận “chặn”, “tấn công bằng khủy tay”, hay “tấn công vào bụng” thực sự là như thế nào trong khi luyện theo cập và khi nhận phải những đòn tấn công đó thì ra sao. Một khi bạn có thể mường tượng được các độngt ác của chiêu thức trong khi phản ứng lại đòn tấn công của đối phương – chặn đòn tấn công, đấm vào nơi sơ hở, tiến lên trước tấn công hay lùi lại tránh một cú đá – thì sự kết hợp tay chân sẽ trở thành tự nhiên, và bán sẽ có thêm những hiểu biết bên ngoài về ý nghĩa của những việc đang làm.
4.      Luyện chuyển động tác một cách trôi chảy: Tiếp theo, hãy tập trung vào sự trôi chảy. Bạn đã học kỹ và thực hiện từng động tác một cách thành thục và chính xác, đã hiểu được mục đích và sự kết hợp của chúng, bay giờ hãy nối các động tác đó lại cho thành một khối và duyên dáng sao cho toàn bộ chiêu thức đó diễn ra trôi chảy từ đầu đến cuối. Khi đã trôi chảy sẽ có kết hợp của tình cảm và năng lượng. Khi một động tác liên tiếp động tác khác một cách tự nhiên thì chúng bổ trợ cho nhau và có thẻ truyền được kình lực tối đa khi ứng dụng. Đồng thời, đừng quên những bài học trước: tấn luôn vững như cắm rễ vào đất. Đừng vội vàng thực hiện động tác hay cắt bớt các động tác. Hãy kết thúc động tác này trước khi bắt đầu động tác kế tiếp. Nhớ kết hợp tay và chân. Nhưng bây giờ hãy nối kết các động tác theo thứ tự trôi chảy. Hãy làm sao cho hầu như không còn nhận ra khoảng cách giữa các động tác. Để dạy chiêu thức, các sư phụ đã phải chia ra thành những bước nhỏ, bây giờ hay xóa đi những bước ngăn cách này và làm cho chiêu thức trở nên liên tục.
5.      Phát triển kình lực và tốc độ: Cuối cùng – khi đã nắm vững tất cả những bước trên, bạn hãy chú ý kình lực và tốc độ. Khi bạn đã có thể thực hiện chiêu thức một cách chính xác, tự nhiên mà trôi chảy, bạn cũng sẽ có thể làm nhanh chóng với một chút nổ lực mà thôi. Luôn ý thức về ứng dụng, tập trung sự chú ý và ý định của mình để chuyển năng lượng thông qua động tác như dự tính.
Trong tiếng hoa phân bố năng lượng được miêu tả như sau: kỳ căn tại cước, phát vu thoái, chủ tể vu yêu, hình vu thủ chỉ (bàn chân là gốc, chân là nguồn của lực, eo là nơi phát lực, lực hiên ra ở ngón tay)
Hơn thế nữa sự tập trung của năng lượng được lấy ra từ “lục hợp và tam phân”. Lục hợp là sự hòa hợp của các khớp tương ứng: cổ tay và mắt cá chân, đầu gối và khủy tay, vai và hông. Tam Phân tương ứng với 3 khớp điểu khiển quá trình vận chuyển kình lực ở thân trên và thân dưới như sau: kình lực từ vai chuyển qua khủy tay và đẩy ra ở nắm tây, kình lực từ hông chuyển qua đầu gối và đẩy ra ở châ. Chân tạo thế vững, eo duy trì kiểm soát, sự kết hợp hài hòa bảo đảm đẩy toàn bộ kình lực trúng đích.
Vì đây được coi là một lý thuyết khá cao cấp, những người mới bắt đầu chỉ cần lướt qua. Hiểu được cấu trúc của cơ thể cũng là một phần của tập luyện.
        
TẬP LUYỆN
            Qua tất cả những điều trên, một thông điệp duy nhất chúng tôi muốn chuyển đến các bạn là nhấn mạnh tầm quan trọng của tập luyện đối với bất cứ giai đoạn nào. Hãy ôn lại và hãy tập lại. Khi bạn nghĩ không bao giờ hiểu được chiêu thức thì hãy tiếp tục tập luyện. Hãy ôn lại và tập luyện lại. Sự phát triển có tính chu kỳ. Khi bạn nghĩ rằng bạn đã hiểu nó đến mức không thể nào tiến bộ được nữa thì hãy cứ tiếp tục tập luyện, ôn lại và tập lại. Càng tập bạn sẽ càng thấy quen thuộc, càng nhạy cảm và càng cảnh giác hơn. Lúc đó mới chắc chắn thành công.
Trích trong: Paul Eng, Tự học Kungfu căn bản, NXB Tổng Hợp TP.HCM, 2005